Xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá năm 2024

  • 1. biên) o THỊ OANH GIÁO TRÌNH KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DUG NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC s ư PHẠM
  • 3. (Chủ biên) ĐÀO THỊ OANH GIÁO TRÌNH KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC (In lần thứ ba) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC sư PHẠM
  • 4. V E R S I T Y O F E D U C A T I O N P U B L I S H I N G H O U S E GIAO TRlNH KIỂM TRA ĐÁNH GIẤ TRONG GlAO DỤC Nguycn-Cong-KhantUChii biầtllr Đào Thị Oanh ... k ã Y m ỉẰ H ĩ 10« j>jj! Mả ịó sách tiéu chuẩn quổc tế: ISBN 97£604f54-l 605-1 Bán quyén xuẫt bản thuộc i^N tÌầ xòắt biriữaiỊioc Sưphạm. Mọi hlnh thức sao chép toàn bộ hay mộf phềf>hoảc cát hlnh thức phát hành mà không có sựcho phép trước bằng văn bản của Nhầ xuảt bần Đại học sư phạm đổu la VI phạm phap iuạt. Chúng tồi luồn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp cùa quý vị độc già để sách ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi góp ý vésách, liên hệ vé bàn thào và dịch vụ bàn quyển xin vui lòng gửi vế địa chì email: [email protected] Mã só sách tiêu chuẩn quốc tế: ISBN 978-604-54-1605-1 2
  • 5. 1. cơ sở ư LUẬN VẼ KIẾM TRA ĐÁNH GlA TRONG GIÁO DỤC............................. 9 1.1. Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục................................................... 10 1.2. Mục đích, mục tiêu của kiểm tra đánh giá trong giáo dục.....................................12 1.3. Cáchình thái đánh giá trong giáo dục............................................................20 1.4. Cáckhái niệm cơbản................................................................................25 1.5. Các loại hình đánh giá (types of assessment) trong giáo dục.................................37 1.6. Líthuyết khảo thí có đién và khảo thí hiện đại..................................................70 1.7. Quy trình và năng lực thiết lập một kéhoạch đánh giátrẽn lớp phù hợp................... 78 CâuhỏivàbàitậpChương 1.............................................................................83 Chương 2. CÁC CÔNG cụKIỂM TRA ĐÁNH GIÁ........................................................84 2.1. Các phương pháp kiểm tra đánh giá............................................................. 85 2.2. Một sócông cụ kiểm tra đánh giá...............................................................102 2.3. Kiểmtra đánh giá năng lựccủa học sinh....................................................... 106 2.4. Đánh giá két quả họctập trẽn lớp học......................................................... 140 2.5. Quy trình và ki thuật thiết kế đế kiếm tra, thi trắc nghiệm khách quan................... 149 2.6. Quy trình và kĩ thuật thiết kễđé kiếm tra, thi kiểu tự luận.................................. 167 CâuhòivàbàitậpChương2............................................................................77J Chương 3. xử LÍ VÀ PHÀN HÓI KẾT QUÀ KIỂM TRA ĐÁNH GlA..................................174 3.1. Xu hướng đổi mới và triết lí đánh giá vì sựtiến bộ học tập................................. 175 3.2. Yêu cáu, nguyên tác kiếm tra đánh giá hỗ trợcải tiến chất lượng học tập................179 3.3. Xửlí kết quả kiểm tra đánh giá.................................................................. 185 3.4. Phản hối kết quả kiếm tra đánh giá............................................................ 188 3.5. Cácquan điểm vàvăn bản hiện hành vé kiểm tra đánh giá.................................193 CâuhỏivàbàitậpChương3........................................................................... 199 3
  • 6. lục 1: Khởi động, làm quen...................................................................... 200 Phụ lục 2: Đánh giá năng lựcsuy ngẫm............................................................. 201 Phụ lục 3: Bài tập đánh giá năng lựcgiải bầi toấn điển ô Sudoku............................. 202 Phụ lục 4: Bài tập đánh giá năng lựcthực hiện nhiệm vụ.......................................204 Phụ lục 5: Đánh giá nàng lựcdựatrẽn thang nhân thức của Bloom........................... 206 Phụ lục 6: Xây dựng bộ công cụđánh giá hoạt động dạy vàhọctích cực....................... 212 Phụ lục 7: Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiểu chí (Rubric).....................................216 Phụ lục8: Quytrình thiết kếcông cụ đo vầ những kĩ thuật thiết ké câu hỏi (Item).........223 Phụ lục9: Xây dựng bộtrác nghiệm (test) kiểm tra khảo sát đáu ramôn Toán lớp 8....... 241 Phụ lục 10: Hướngdẫn kĩthuật chẫm điểm bài kiểm tra tự luận.............................. 249 Phụ lục lia: Thang đo áp lựccuộc sóng........................................................... 2S2 Phụ lục 11b: Thang đo hài lòng cuộcsống..........................................................255 Phụ lục 12: Thang đo năng lực ứng phó giải quyễt ván đế ởlứatuổi vị thành niên..........259 Phụ lục 13: Bảng kiểm................................................................................ 268 Phụ lục 14: Thangđo hầnh vi: CTRS-28............................................................. 269 Phụ lục 15: HỖsơhọctập..............................................................................273 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. ...... 278 4
  • 7. hướng chung của dạy học ưên thế giới hiện nay là chuyển từ mục tiêu cung cấp tri thức sang hình thành các năng lực ở người học, hoạt động dạy định hướng vào tích cực hoá người học (học thế nào?). Năng lực của học sinh phổ thông không chỉ là tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức mà quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng/vận dụng tri thức để giải quyết những vấn đề của cuộc sống. Năng lực không chi là tri thức, kĩ năng, thái độ mà là sự kết hợp của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện), muốn hành động và sẵn sàng hành động (gồm động cơ, ý chí, tự tin, trách nhiệm xã hội...). Năng lực của học sinh gồm các năng lực nhận thức (ngôn ngữ, tính toán, suy luận logic, tri giác không gian... năng lực nghĩ về cách suy nghĩ - siêu nhận thức) và các năng lực phi nhận thức (năng lực vượt khó, thích ứng, thay đổi/tạo niềm tin tích cực, ứng phó stress, quản lí/lãnh đạo/phát triển bản thân). Để chuẩn bị cho công cuộc đổi mói giáo dục phổ thông sau năm 2015 theo hướng tiếp cận năng lực, mà kiểm tra đánh giá được xem là khâu đột phá, thông qua chương trình READ1 , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao triển khai biên soạn học phần Đánh giá trong giáo dục dành cho đối tượng sinh viên các trường, khoa Sư phạm. Mục tiêu chung của học phần Đánh giá trong giáo dục này nhằm phát triển cho sinh viên ngành sư phạm các năng lực 1READ: Russia Education Aid for Development (READ). 5
  • 8. để thiết kể và thực hiện các nhiệm vụ đánh giá chính yếu trong phạm vi lớp học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập quốc tế, tạo cơ hội cho sinh viên sư phạm phát triển năng lực đánh giá giáo dục. Mục tiêu cụ thể là sau khi học xong học phần này, sinh viên sẽ đạt mức vận dụng cơ bản các năng lực sau về đánh giá hoạt động học tập trên lớp: mỗi năng lực là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đánh giá học sinh, sinh viên cần thực hiện các nhiệm vụ đó bằng cách kết hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ. (Ị) Thực hiện đánh giá trên lớp để phát triển học tập: Kết hợp đánh giá với quá trình giảng dạy - học. Sinh viên sẽ có thể tích hợp mối quan hệ biện chứng giữa giảng dạy và đánh giá trong thiết kế các thành phần của kế hoạch đánh giá trên lớp, sử dụng các phương pháp đánh giá học sinh trên lớp theo định hướng phát huy năng lực tự học của người học, giúp người học cảm thấy mình có khả năng học và muốn học. (2) Thiết kể một số công cụ đánh giá cơ bản để phát triển năng lực cho học sinh: Năng lực này bao gồm việc phân biệt tầm quan trọng của các loại công cụ đánh giá khác nhau cho mục đích đánh giá trên lớp, sử dụng các loại công cụ, kĩ thuật đánh giá trên lớp học để phát triển học tập. (3) Xử lí kết quả đánh giá: Sinh viên sẽ có thể áp dụng các mô hình đo lường thống kê khác nhau trong các lí thuyết đánh giá cổ điển và hiện đại trong điều kiện Việt Nam để phân tích các loại kết quả học tập của học sinh, cụ thể như phân tích các chỉ số thống kê của kết quả đánh giá dạng định lượng. (4) Phản hồi thông tin về kết quả đánh giá cho học sinh: Năng lực cốt lõi này của quy trình đánh giá bao gồm việc cung cấp phản hồi, nhận xét cho học sinh và các đối tượng khác 6
  • 9. và dựa trên đó thiết kế các chiến lược giảng dạy hồ trợ để phát triển các năng lực cùa người học. (5) Lập kế hoạch đánh giá một đoi tượng học sinh cụ thế: Năng lực này bao gồm việc nắm vững và sử dụng tất cả cơ sở lí luận cần thiết về đánh giá học sinh trong việc xây dựng nội hàm cho một kế hoạch đánh giá cụ thể, ví dụ như xác định mục đích, mục tiêu/nội dung đánh giá (chuẩn đầu ra) phù hợp, xây dựng công cụ đánh giá, xây dựng chiến lược phản hồi thông tin. Nội dung của học phần Đánh giá trong giáo dục cho sinh viên ngành Sư phạm được xây dựng trên cơ sờ các nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo viên trong quá trình đánh giá hoạt động học tập cùa học sinh trên lớp. Kiến thức và kĩ năng về đánh giá vẫn là một phần quan trọng trong nội dung giảng dạy cùa học phần, nhưng bên cạnh đó, học phần còn chú trọng hướng dẫn sinh viên vận dụng các kiến thức và kĩ năng trong thực hành các nhiệm vụ đánh giá. Nội dung học phần được chia thành ba chương, thời lượng ba tín chỉ, được giảng dạy trong 15 tuần học (tương đương một học kì của sinh viên sư phạm). Chương 1: Cơ sở lí luận vể kiếm tra đánh giá trong giáo dục Chưong 2: Các công cụ kiểm tra đánh giá Chương 3: Xử lí và phản hồi kết quả kiểm tra đánh giá Giáo trình này đã sử dụng rất nhiều thông tin, tư liệu từ các nguồn khác nhau, vì vậy chúng tôi xin càm ơn các tác giả đã trực tiếp hay gián tiếp cho phép chúng tôi sử dụng những hiểu biết, những thông tin, kết quả công trình nghiên cứu của mình. 7
  • 10. tra đánh giá theo cách tiếp cận năng lực là một xu hướng mới, do vậy, tài liệu này khó tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm và góp ý của bạn đọc để giáo trình hoàn thiện hơn khi tái bản. Xin chân thành cảm ơn! Chù biên 8
  • 11. SỞ LÍ LƯẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MỰC TIÊU Sau khi học xong chương này, sinh viên sẽ: - Hiểu được vai trò và phân biệt được các mục đích, mục tiêu khác nhau cùa kiếm tra đánh giá trong giáo dục, đặc biệt ỉà các mục tiêu của kiểm tra đánh giá trên lớp học. - Hiểu được bàn chất và sự cần thiết phái sừ dụng phoi hợp các hình thái đánh giá trong giáo dục. - Phân biệt được các khái niệm cơ bản liên quan đến kiếm tra đánh giá. - Hiểu rõ iru thế, hạn chế của lí thuyết kháo thỉ cổ điển và khảo thí hiện đại để vận dụng. - Triển khai được các loại hình đánh giá cơ bản trên lớp học. - Hiểu quy trình và biết cách thiết lập một kế hoạch đánh giả lớp học phù hợp. NỘI DUNG - Vai trò cùa kiểm tru dủnh giá trong giáo dục. - Mục đích, mục tiêu của kiếm tra đảnh giá trong giáo dục. - Các hình thái đánh giá trong giáo dục. - Các khái niệm cơ bàn. 9
  • 12. hình đánh giá (types of assessment) trong giáo dục. - Lí thuyết khảo thí co điển và khảo thí hiện đại. - Quy trình và năng lực thiết lập một kế hoạch đánh giá trên lớp học phù hợp. 1.1. Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục 1.1.1. Kiểm tra đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đều cho ràng, dạy học là một quá trình hoạt động có tính mục đích, nó thường phải bao gồm đầy đủ các thành tố cơ bản sau: xây dựng mục tiêu, thiết kế nội dung, to chức hoạt động dạy - học và kiếm tra đánh giá. Do vậy, kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng, không thể tách rời của quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá nhàm cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy và học. Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học, đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học, họ phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kĩ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho phù hợp vói đối tượng người học và đạt chất lượng hiệu quà theo mục tiêu đã đề ra. Muốn biết quá trình dạy - học có chất lượng, hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chinh phương pháp dạy, kĩ thuật dạy cùa mình, đồng thời, giúp học sinh điều chinh các phương pháp học. Như vậy, kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học. 10
  • 13. đánh giá là công cụ hành nghề quan trọng của giáo viên Giáo viên là người trực tiếp tác động tạo ra những thay đổi ở người học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Muốn xác ctịnh người học - sản phẩm của quá trình giáo dục đáp ứng như thế nào so với mục tiêu giáo dục đã đề ra thì người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá. Ket quả kiểm tra đánh giá trên cơ sở tổng họp từ nhiều nguồn thông tin do sử dụng đa dạng các loại hình kiểm tra đánh giá là vô cùng quan trọng để đi đến những nhận định, những quyết định đánh giá khách quan, điều chinh kịp thời nội dưng, phương pháp giáo dục. Kiểm tra đánh giá chỉ thực sự trờ thành công cụ hành nghề quan trọng, đạt hiệu quả khi giáo viên xác định rõ mục đích đánh giá, hiểu rõ thế mạnh của mồi loại hình đánh giá, lập được kế hoạch, quy trình đánh giá, chọn lựa hay thiết kế được công cụ đánh giá phù hợp, đáp ứng các yêu cầu, đặc tính thiết kế và đo lường. Đồng thời, giáo viên phải biết xử lí, phân tích, sử dụng các kết quả đánh giá đúng mục đích, biết cách phản hồi, tư vấn cho phụ huynh và học sinh. 1.1.3. Kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy và học Công tác quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy và học rất cần các thông tin từ hoạt động kiểm tra đánh giá. Bản chất của kiểm ưa đánh giá là cung cấp thông tin nhằm xác định xem mục tiêu của chương trình giáo dục có đạt được hay chưa, mức độ đạt được như thế nào?... Các thông tin khai thác được từ kết quả kiểm ưa đánh giá sẽ rất hữu ích cho các nhà quản lí, cho giáo viên, giúp họ giám sát quá trình giáo dục, phát hiện các vấn đề, đưa ra các quyết định kịp thời nhằm điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện để đạt được mục tiêu. 11
  • 14. giá luôn được xem là phương thức quan trọng để giám sát, quản lí con người trong một lớp học, trong tổ chức vận hành nhà trường. Trong lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu đột phá nhằm thúc đẩy các quá trình khác như: đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lí... Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá theo hướng vì sự tiến bộ của người học như là quá trình thúc đẩy phát triển học tập bền vững, giúp phát triển năng lực người học thì lúc đó, quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hửng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũiíg sẽ làm được”... Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai. 1.2. Mục đích, mục tiêu của kiểm tra đánh giá trong giáo dục 1.2.1. Mục đích chung của kiểm tra đánh giá trong giáo dục Kiểm tra đánh giá trong giáo dục có mục đích chung là cung cấp thông tin để ra các quyết định về dạy học và giáo dục. Có ba cấp độ đối tượng sử dụng các thông tin này: - Cấp độ trực tiếp dạy và học: người sử dụng thông tin là ngiròi dạy, người học và phụ huynh người học. Thông tin quan trọng ờ cấp độ này cho biết việc dạy và học có tạo nên kết quả mong muốn hay không? Từng cá nhân người học có đạt được các kết quả đầu ra như mục tiêu hay chuẩn đã đề ra hay không? Ở cấp độ này, thông tin không chi 12
  • 15. cuối mỗi giai đoạn dạy và học mà phải được cung cấp trong suốt cả quá trình dạy và học. - Cấp độ ho trợ hoạt động dạy và học: người sử dụng thông tin là người quản lí việc dạy và học như: hiệu trưởng, tổ trường chuyên môn, cổ vấn học tập, chuyên gia tư vấn học đường... Ở cấp độ này, người ta quan tâm đến các thông tin về chất lượng chương trình, đội ngũ giáo viên, các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động dạy và học... nhàm đưa ra các biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng. Như vậy, thông tin thường được cung cấp không phải liên tục mà theo định kì và quan tâm chủ yếu đến các nhóm người học hơn là từng cá nhân học sinh. - Cấp độ ra chính sách: người sừ dụng thông tin là người giám sát, thường là các cấp quản lí bên trên như phòng, sờ, Bộ Giáo dục và Đào tạo... Đánh giá ờ cấp độ này thường mang tính tổng hợp, theo diện rộng và phải đảm bảo tính tiêu chuẩn hoá để có thể so sánh, đối chiếu nhiều chiều nhàm xác định chất lượng giáo dục (điểm mạnh, điểm yếu...) và các nhân tố ảnh hưởng, chi phối. Từ các mục đích chung nhất này, người ta xác định ra các mục tiêu giáo dục. Ba mục tiêu cơ bản nhất mà các hoạt động kiểm tra đánh giá giáo dục phải hướng đến và cũng là ba lĩnh vực giáo dục các nhà trường phải tập trung đánh giá là: lĩnh vực nhận thức; lĩnh vực kĩ năng; lĩnh vực tình cảm - thái độ. - Lĩnh vực nhận thức: các mức độ mục tiêu của lĩnh vực nhận thức được Bloom và những người cộng tác cụ thể hoá thànli sáu mức độ từ tháp đến cao: nhận biết, thông hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Sau này, các nhà nghiên cứu giáo dục thuộc lĩnh vực nhận thức bổ sung thêm các mức cao hơn: sáng tạo, chuyến giao. 13
  • 16. kĩ năng được chia thành các mức độ từ đơn giản đến phức tạp nhất (Dave R.H, 1970) gồm: bắt chước thụ động, thao tác theo, tự làm đúng, khớp noi được, thao tác thành thạo. - Lĩnh vực tình cảm - thái độ cũng được chia thành các mức độ từ đơn giản đến phức tạp nhất, gồm: tiếp nhận, đáp ứng, chấp nhận giá trị, tổ chức, đặc trung hoá. Ngoài ra, còn một số cách phân loại khác nhưng không phổ biến. 1.2.2. Các mục tiêu học tập cụ thể Từ ba nhóm mục tiêu giáo dục đã nêu trên, Stiggins đã đưa ra năm nhóm mục tiêu học tập cụ thể như sau: 1.2.2.1. Các mục tiêu vê nhận thức Nhóm mục tiêu cụ thể này liên quan đến yêu cầu nắm vững các yếu tố kiến thức đom lẻ. Nắm vững kiến thức khác với ghi nhớ, nắm vững có nghĩa là phải thông hiểu các Kiến thức ấy chứ không chi đơn thuần là nhớ lại; mặt khác, nhiều khi không cần thiết phải ghi nhớ máy móc. Trong thời đại công nghệ thông tin, khối lượng thông tin tăng nhanh, do đó, phải biết cách tìm kiếm và thu nhận được các kiến thức cần thiết nhờ các công cụ khác nhau khi ta cần đến chúng chứ không chi ghi nhớ máy móc. Các mục tiêu cụ thể về nhận thức này có thể bao gồm hai cấp độ đầu của thang nhận thức Bloom (nhận biết, thông hiểu). 1.2.2.2. Các mục tiêu về suy luận Nhóm mục tiêu này liên quan với yêu cầu biết suy luận để giải quyết vấn đề. Các loại thao tác suy luận cần thiết có thể là: phân loại, so sánh, quy nạp, diễn dịch, hỗ trợ để cấu trúc tri thức, trừu tượng hoá, hoặc: phân tích lí lẽ, phán xét 14
  • 17. cùa nguồn thông tin, xác định sự chấp nhận, quyết định hành động. Các mục tiêu cụ thể về suy luận có thể bao gồm bốn cấp độ sau của thang nhận thức Bloom (áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá). 1.2.2.3. Các mục tiêu về k ĩ năng Nhóm mục tiêu này yêu cầu người học có năng lực thể hiện một loại hành vi nào đó. Muốn đánh giá được kĩ năng cần tạo cơ hội cho người học thể hiện kĩ năng để người dạy quan sát và đánh giá. Đe đạt được kĩ năng, thường cần hai điều kiện: (1) Người học cần nắm vững quy trình; (2) Người học cần có năng lực suy luận và sử dụng kiến thức thích họp để thể hiện hành vi. Tuy nhiên, hai mục tiêu điều kiện đó chỉ là nền tảng của kĩ năng. Đối với kĩ năng còn có mức độ thành thạo. Các mục tiêu cụ thể ưong lĩnh vực kĩ năng có thể phân theo các cấp độ, chẳng hạn theo cách phân loại cùa Dave trình bày ở trên. 1.2.2.4. Các mục tiêu về năng lực tạo ra sản phẩm Nhóm các mục tiêu này thường thể hiện thông qua việc tạo ra các thực thể hữu hình. Muốn tạo nên được các sản phẩm cần có kiến thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ, nhưng minh chứng về kết quả cuối cùng nằm ờ sản phẩm cụ thể: các bài viết, các đồ vật... Do đó, các mục tiêu cụ thể về sản phẩm có thể được bao gồm trong các lĩnh vực nhận thức, kĩ nâng, có thể cả trong lĩnh vực tình cảm - thái độ. 1.2.2.5. Các mục tiêu về tình cảm - thái độ Đây là các mục tiêu rộng và phức tạp nhất, đó là tình cảm - thái độ, sự quan tâm, hứng thú, động cơ... Điều này cần được xác định qua các đối tượng cụ thể, theo hướng tích cực hay tiêu cực, có cường độ mạnh hay yếu. Các tình cảm này 15
  • 18. từ khía cạnh nào đó của cuộc sống, ảnh hường trực tiếp lên đối tượng nào đó. Khi xác định tình cảm và thái độ cần phải biết chiều hướng và cường độ của chúng. Do vậy, để đánh giá về tình cảm - thái độ, người đánh giá cần hiểu biết sâu về tâm lí, hiểu về đối tượng đánh giá khi lựa chọn phương pháp, thiết kế công cụ đánh giá. 1.2.2.6. Mục tiêu năng lực Khi tách biệt các mục tiêu giáo dục chung thành các lĩnh vực nhận thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ hoặc chi tiết hơn thành các mục tiêu học tập cụ thể, giáo viên thường có xu hướng thiên lệch, chú ý quá nhiều đến lĩnh vực nhận thức hoặc mục tiêu nhận thức cụ thể mà ít chú ý đến các mục tiêu kĩ năng (vận dụng kiến thức, thao tác hoá các khái niệm...) hoặc tình cảm - thái độ. Như vậy, mục tiêu về nhận thức có vẻ dễ thực hiện hơn và dễ đánh giá hom. Để tránh sự thiên lệch đó, xu hướng mới khi xây dựng chương tình giáo dục và công cụ đánh giá, nhiều nước đã đưa ra các mục tiêu có tính tổng hợp, đó là các mục tiêu về năng lực. Thực chất năng lực nào đó của một con người thường là tổng hoà của kiến thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ được thể hiện bàng hành động hiệu quả nhàm đạt mục đích, mục tiêu trong bối cảnh có ý nghĩa. Theo xu hướng đổi mới, cải cách giáo dục của nhiều nước trên thế giới, khi xây dựng chương trình giáo dục và sách giáo khoa cho bậc giáo dục phổ thông Việt Nam sau năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chi đạo xây dựng mục tiêu tổng hợp về năng lực của bậc giáo dục phổ thông. Để đánh giá mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, người giáo viên phải quan tâm đến tất cả các mục tiêu thành phần về 16
  • 19. năng và tình cảm - thái độ theo quy định của một chương trình giáo dục cụ thể, quan trọng là phải đánh giá được năng lực thực hiện, vận dụng những gì được học vào giải quyết vấn đề trong cuộc sống. 1.2.3. Mục tiêu của kiểm tra đánh giá trên lớp học Các nghiên cứu quan sát hoạt động của giáo viên trên lớp học đã chỉ ra ràng, giáo viên thực hiện kiểm ưa đánh giá học sinh vì các mục tiêu khác nhau. Có thể tóm tắt thành các mục tiêu chính sau: phần loại học sinh; lên kế hoạch và điều chinh hoạt động giảng dạy; phản hồi và khích lệ; phán đoán giá trị, xếp loại học tập và phân định mức độ tiến bộ. 1.2.3.1. Phân loại học sinh Hầu hết giáo viên phải ra quyết định phân loại học sinh. Các trường hợp đưa ra đánh giá phân loại là: chia nhóm, cặp học tập, phân loại một học sinh cụ thể theo học một giáo viên cụ thể với từng môn học cụ thể (ví dụ: Toán, Tập đọc...). Một quyết định phân loại khác của giáo viên là xác định học sinh có điểm bài kiểm ữa các kĩ năng cơ bản dưới điểm chuẩn trong kì kiểm tra định kì toàn trường hay quốc gia, hoặc phân loại những học sinh nào vào nhóm học sinh yếu cần có sự hồ ượ đặc biệt. Các nghiên cứu cho thấy các quyết định phân loại của giáo viên đều được thực hiện vì lí do học tập và dựa trên các kết quả kiểm tra đánh giá. 1.2.3.2. Lên kế hoạch và điêu chỉnh hoạt động giảng ơạy Các quyết định lên kế hoạch giảng dạy, điều chỉnh giảng dạy trong một giờ học thường phải dựa trên các kết quả kiểm tra đánh giá. Chẳng hạn, giáo viên phải thay đổi cách dạy 17
  • 20. giữa bài học nếu phát hiện thấy nhiều học sinh trong lớp không hiểu bài và bắt đầu mất trật tự. Giáo viên cũng có thể tạm dừng việc dạy bài mới để ôn lại bài của ngày hôm trước nếu các câu trả lời của học sinh cho thấy cả lớp không nắm vững bài trước đó. Cách khác, giáo viên thay đồi cách dạy: dừng thuyết trình và chuyển sang sử đụng một câu chuyện hoặc trò choi, tạo hứng khởi cho việc tiếp thu bài học, khi học sinh bắt đầu chán và mất trật tự. Các quan sát trên lớp học cho thấy rất nhiều đánh giá của giáo viên nhằm mục tiêu lên kế hoạch và kiểm soát, điều chỉnh hoạt động giảng dạy. 1.2.3.3. Phản hồi và khích lệ Một mục tiêu quan trọng khác của kiểm tra đánh giá trên lớp học là đưa ra các phản hồi và khích lệ học sinh. Ý kiến phản hồi chính xác của giáo viên về sự thể hiện kĩ năng học tập của học sinh rất cần thiết để thúc đẩy học sinh tiến bộ. Ví dụ: giáo viên khen ngợi học sinh A vì kết quả làm bài kiểm tra tốt, thể hiện sự tiến bộ đồng thời, nhắc nhờ học sinh B vì phát hiện ra những lỗi trong bài kiểm tra do em làm ẩu, tính toán sai... Trong mỗi trường hợp, giáo viên đã sử dụng các thông tin từ kết quả kiểm tra đánh giá trong từng lĩnh vực học tập để đưa ra phản hồi cho học sinh về điểm mạnh, thiếu sót của các em. Đánh giá quá trình nhằm phản hồi, điều chinh, khích lệ học sinh là một yêu cầu, nhiệm vụ chính, rất quan trọng của giáo viên đứng lớp. Đề đưa ra được các ý kiến như thể, người giáo viên phải thường xuyên kiểm tra đánh giá việc học tập và hành vi ứng xử của học sinh. 18
  • 21. các vấn đề cụa học sinh Các nghiên cứu về đánh giá trên lóp học đã chỉ ra rằng, phần lớn các kiểm tra đánh giá của giáo viên được dùng để xác định và điều chỉnh các vấn đề của học sinh. Giáo viên phải kiểm tra đánh giá phát hiện sớm các khó khăn trong học tập cùa học sinh và luôn giám sát những học sinh có vấn đề về học tập hoặc vấn đề về hành vi ưong lớp học. Ví dụ: trong lớp có những học sinh kém môn Toán, sợ học môn Tiếng Anh, kém tập trung chú ý, tăng động... Xác định được những vấn đề này, giáo viên có thể tiến hành các hoạt động giúp đỡ cần thiết, kịp thời để học sinh tiến bộ, đôi khi có những học sinh cần phải được chẩn đoán và giúp đỡ đặc biệt ngoài lóp học (cần sự đánh giá chẩn đoán của các chuyên gia tâm lí lâm sàng hoặc tư vấn tâm lí học đường). Theo các chuyên gia đánh giá giáo dục, phần lớn dữ liệu kiểm tra đánh giá do giáo viên thu thập được dùng để nhận biết, hiểu và khắc phục các vấn đề khó khăn trong học tập của học sinh. 1.2.3.5. Phán đoán giá trị, xếp loại học tập và phân định mức độ tiến bộ Một số quyết định của giáo viên liên quan đến phán đoán giá trị, xếp loại học tập và xác định mức độ tiến bộ của học sinh so vói các bạn khác trong lóp. Ví dụ: giáo viên chấm điểm bài kiểm tra Toán hay Ngữ văn của học sinh, hoàn thành bản mô tả báo cáo tiến bộ hằng tháng của từng học sinh; giáo viên quyết định tự soạn bài kiểm tra cho môn Toán hom là sử dụng bài kiếm tra có sẵn trong sách giáo khoa, sách tham khảo; giáo viên chữa bài tập về nhà của học sinh và họp với phụ huynh cùa một học sinh có kết quả học tập yếu/kém... Như vậy, phần lớn thời gian của giáo viên được dùng để 19
  • 22. tin nhằm phán đoán giá trị học sinh hoặc xếp loại mức độ tiến bộ trong học tập của các em. * * * Tóm lại, kiểm tra đánh giá có những mục đích, mục tiêu khác nhau, mỗi loại mục đích, mục tiêu cụ thể đòi hỏi sử dụng tương ứng những loại hình kiểm tra đánh giá phù hợp. Mồi loại hình kiểm tra đánh giá thường chi có ưu thế và thích hợp cho một loại mục đích, mục tiêu đánh giá nào đó. Do vậy, giáo viên phải làm rõ mục đích, mục tiêu cho từng nhiệm vụ kiểm tra đánh giá để chọn lựa loại hình, công cụ đánh giá phù hợp. 1.3. Các hình thái đánh giá trong giáo dục Các nhà nghiên cứu (Mabry, 1999; Serafini, 2001; Stiggins & Stiggins, 2005) đã phân chia lịch sử phát triển kiểm tra đánh giá thành ba hình thái chính: 1.3.1. Hình thái đánh giá truyền thống chủ yếu dựa trên sự đo lường tâm lí Đây là hình thái đánh giá phát triển sớm nhất - hình thái đánh giá cổ điển. Trong hình thái này, các bài kiểm tra viết trên giấy, chuẩn hoá được sử dụng trên phạm vi rộng để tăng tính giải trình của việc đánh giá. Câu hỏi kiểm tra đánh giá được thiết kế ờ dạng trắc nghiệm khách quan và sử dụng máy tính để chấm điểm nhằm đánh giá chính xác hơn. Việc đưa ra các nhận định trong hình thái này chủ yếu là dựa trên chuẩn hoặc các tiêu chí dựa trên chuẩn. Bài kiếm tra viết chuấn hoá có nhiều ưu điểm như: các câu hỏi thể hiện tính khách quan, đàm bảo độ tin cậy, độ khó phù hợp, có độ giá trị đảm bảo, dễ chấm, tránh được tình trạng chênh lệch giữa những người chấm, 20
  • 23. gian, công sức, tiền bạc và các câu hỏi kiểm tra đánh giá bao quát được một phạm vi rộng gồm nhiều nội dung cần đánh giá... Hình thái đánh giá dựa trên đo lường tâm lí cũng là hình thái lâu đời nhất trong kiểm ưa đánh giá và hiện tại vẫn có vai trò lớn trong nền giáo dục của thể giới. Tuy nhiên, hình thái đánh giá truyền thống này bị phê phán là: tạo nên áp lực thi cử; dễ mang định kiến về văn hoá, giới tính; kiến thức được đánh giá trong các bài kiểm tra viết chuẩn hoá dễ sa vào chi tiết, tập trung vào các kĩ năng tư duy bậc thấp; tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh về điểm số chứ không phải về sự hiểu biết; tập trung vào việc phân loại học sinh thay vì đảm bảo học sinh đạt được năng lực (Hart, 1994; Herman, Aschbacher & Winters, 1992; Stiggins, 2005; Thorndike, 2005; Wiggins, 1992). 1.3.2. Hình thái đánh giá gắn với bối cảnh giáo dục (Griffin & Nix, 1991;Wiggin, 1989, 1992) Đây là hình thái đánh giá xuất hiện muộn hom, được cho là để khắc phục những điểm bất cập của hình thái đo lường tâm lí qua những bài kiểm ưa viết trên giấy được chuẩn hoá. Hình thái này chủ trương kiểm tra đánh giá phải phù hợp với khung chương trình, hữu ích, xác thực, chủ yếu thực hiện ưên lớp học, mang tính phản hồi, cung cấp thông tin và có ích cho việc điều chỉnh hoạt động giảng dạy. Hình thái này khuyến khích học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau, chú ý đến điếm khác biệt giữa từng học sinh. Việc đánh giá thường xuyên được chú trọng và đánh giá phải dựa trên tiêu chí để cung cấp thông tin. Kết quả đánh giá phải có ý nghĩa và được tiếp tục sử dụng để phát triển năng lực thay vì chỉ để xếp loại. Bài kiểm ưa trên lớp do giáo viên biên soạn và thực hiện phải phù hợp với kế hoạch giảng dạy (có thể bài kiểm tra yêu cầu 21
  • 24. nhóm nhỏ hoặc bài tập chuyên đề giao cho học sinh làm theo nhóm...). Kết quả đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy và các thông tin này cần được thông báo cho các đối tượng tham gia giáo dục. Trong quá trình thực hiện, hình thái đánh giá này bộc lộ một số nhược điểm như: tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài, phạm vi nội dung kiểm tra hẹp, việc đánh giá dựa chủ yếu vào giáo viên. Vai trò của học sinh đã được đề cao nhưng chưa có chỉ dẫn thực hiện rõ ràng, đặc biệt là về mục đích thực hiện đánh giá theo quá trình dựa trên tập hợp bài tập và thực hành đã được chú trọng, nhưng phần lớn là tự phát hoặc ờ dạng kiểm tra đánh giá trên diện rộng, chưa thực sự ảnh hưởng nhiều tới học sinh trên lớp. Nhiều giáo viên trên lớp phàn nàn về gánh nặng công việc mà họ phải thực hiện. 1.3.3. Hình thái đánh giá cá nhân hoá (Brown & Hudson, 1998; Dierick & Dochy, 2001) Việc đánh giá cá nhân hoá xuất phát từ quan điểm và nhu cầu khác nhau, do vậy hình thái đánh giá cá nhân hoá (Stiggins, 2005) cho rằng học sinh cần phải được tham gia vào quá trình đánh giá và phải trờ thành trung tâm của quá trình này. Hình thái này cho rằng, mỗi học sinh có tính duy nhất với trình độ, hiểu biết, phong cách học khác nhau, thông minh theo những kiểu khác nhau, do vậy, hình thái này bổ sung, khắc phục những hạn chế của hai hình thái đánh giá trước. Một loạt các thuật ngữ mới về phương pháp đánh giá theo hình thái cá nhân hoá xuất hiện dưới các tên gọi khác nhau như: phương pháp đánh giá sáng tạo hay đánh giá phi truyền thống (alternative assessment); các đường hướng sáng tạo hay phi truyền thống trong đánh giá (alternatives in assessment - Brown & Hudson, 1998); đánh giá định tính (qualitative 22
  • 25. thực hiện (performance assessment); đánh giá năng lực (competence based assessment); đánh giá xác thực (authentic asessment); văn hoá kiểm tra đánh giá hiện đại (new assessment culture - Dierick & Dochy, 2001). Theo các nhà nghiên cứu, đặc điểm của hình thái đánh giá cá nhân hoá bao gồm: - Học sinh phải thực hiện, sáng tạo, tạo ra sản phẩm, thực hành một nhiệm vụ học tập. - Sử dụng bối cảnh thực tế cuộc sống trong các bài tập, bài kiểm tra. - Đánh giá không làm ảnh hường tới tâm lí học sinh quá nhiều vì gắn với hoạt động giảng dạy trên lớp. - Cho phép đánh giá được học sinh dựa theo những hoạt động thực hiện trên lớp hằng ngày. - Sử dụng các bài tập/bài kiểm tra đa dạng, tương thích với các hoạt động giảng dạy và mục tiêu môn học. - Tập trung vào cả quá trình học tập cũng như sản phẩm học tập. - Yêu cầu học sinh vận dụng kĩ năng tư duy bậc cao và kĩ nàng giải quyết vấn đề. - Cung cấp thông tin về điểm mạnh và điểm yếu của học sinh; - Không mang định kiến về văn hoá, giới tính. - Cho phép người đánh giá (giáo viên) có quyền chù quan tương đối ưong việc chấm bài. - Cung cấp thông tin tường minh về chuẩn và tiêu chí đánh giá. - Yêu cầu giáo viên tham gia mọi quá trình đánh giá. (Nguồn: Đặc điểm cùa hình thái đánh giá cá nhân hoá (Brown & Hudson, 1998; Dierick & Dochy, 2001; Herman, et al., 1992). 23
  • 26. thái đánh giá này cũng chú trọng năng lực tư duy phê phán, đa chiều, tổng hợp, phân tích, sụ cung cấp cách lựa chọn câu hỏi và lựa chọn hình thức thực hiện (cá nhân hoặc nhóm). Học sinh cũng có thể được hướng dần để tham gia vào quá trình đánh giá như: tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau, điều này giúp học sinh tự tin vào quyết định học tập và xác định rõ mục tiêu học tập cá nhân. * * * Ba hình thái kiểm tra đánh giá vừa trình bày có những điểm tích cực và hạn chế khác nhau. Chúng xuất hiện ở những giai đoạn khác nhau, nhưng cuối cùng là để bổ sung cho nhau, không hình thái nào trong số này thực sự chiếm ưu thế trong kiểm tra đánh giá hiện đại. Hình thái thứ hai có thể giải quyết những vấn đề của hình thái thứ nhất, nhưng lại có những vấn đề của riêng nó, hình thái thứ ba có thể khắc phục những vấn đề của hình thái thứ hai nhưng cũng nảy sinh những vấn đề riêng (ví dụ: giáo viên phải sáng tạo, có khả năng tự thiết kế và sử dụng đa dạng các công cụ đánh giá, nhưng tốn nhiều thời gian chuẩn bị kế hoạch bài giảng...). Vì vậy, mặc dù có những giai đoạn mà hình thái này tỏ ra nổi trội hơn hình thái khác, nhưng nhìn chung giáo dục hiện đại không thể loại bỏ bất cứ hình thái nào. Ba hình thái trong lịch sử kiểm ưa đánh giá giáo dục có thể cho thấy sự phát triển của một hệ thống các tư tường nền tảng trong đánh giá giáo dục, các phương pháp đánh giá nổi bật và đại diện cho từng hình thái, các mục tiêu và nội dung đánh giá khác nhau cho các phạm vi đánh giá trên lớp, trường, diện rộng, cần phải nhấn mạnh rằng, tất cả các hình thái đều đang cùng tồn tại. Với việc hiểu biết về những ưu và nhược điểm của các hình thái đánh giá giáo dục này, giáo viên, 24
  • 27. dục sẽ có những quyết định đúng đắn hơn trong việc áp dụng các hình thức đánh giá nào là thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể. 1.4. Các khái niệm cơ bản 1.4.1. Đo lường (measurement) Trong khoa học giáo dục, các nhà nghiên cứu thường xuất phát từ một mệnh đề có tính giả thiết “bất cứ cái gì đang thực sự tồn tại đều có thể đo được” hoặc chúng ta hoàn toàn có thể đo được những cái gì nếu ta chỉ ra được nó đang thực sự tồn tại như thế nào. Đo lường (measurement) trong khoa học tâm lí - giáo dục là sử dụng những thủ pháp hay kĩ thuật như: phiếu quan sát, phiếu phỏng vấn, phiếu trưng cầu, bảng hỏi, phiếu điều ưa, bản nghiệm kê, bảng liệt kê và trắc nghiệm nhàm lượng hoá sự vật, hiện tượng, phục vụ cho các mục tiêu đánh giá (chẳng hạn, đo lường sự hiểu biết, kiến thức, kĩ năng, cấu trúc, thuộc tính hay phẩm chất). Đo lường liên quan đến việc sử dụng các con số vào quá trình lượng hoá các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính (định lượng/đo lường về số lượng). Đối tượng đo lường trong khoa học tâm lí - giáo dục không giống như trong các khoa học tự nhiên, liên quan đến con người - một chủ thể có ý thức, bị chi phối bời xúc cảm/tình cảm, tình huống/ hoàn cảnh, do vậy, thường phức tạp hơn, khó chính xác, khó đo lường trực tiếp. Theo Peter w. Airasian (1997) đo lường là quá trình xác định số lượng hoặc gán một con số cho việc thể hiện kĩ năng. Ví dụ phổ biến nhất của đo lường trong lớp học là khi giáo viên chấm điểm vấn đáp hoặc bài kiểm tra. Việc chấm điểm 25
  • 28. hiện một cách đánh giá kiến thức, kĩ nãng. Ví dụ: học sinh A đạt 17/20 câu đúng trong bài kiểm tra môn Sinh học; học sinh B đạt 9 điểm bài kiểm ưa Toán; điểm của học sinh c trong bài kiểm tra môn Ngữ văn là 85%. Theo Nitko & Brookhart (2007), đo lường trong giáo dục là một thủ pháp/thủ thuật gán điểm số (cho điểm) cho một thuộc tính/đặc tính, đặc điểm cụ thể nào đó, theo một cách thức mà điểm số mô tả/biểu hiện được mức độ của cá nhân sở hữu đặc tính hoặc đặc điểm đó. Như vậy, đo lường liên quan đến việc sừ dụng các con so vào quá trình lượng hoá các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính (định lượng/đo lường về số lượng). Đối tượng đo lường trong khoa học tâm lí - giáo dục không giống như trong các khoa học tự nhiên, liên quan đến con người - một chủ thể có ý thức, bị chi phối bởi xúc cảm/tình cảm, tình huống/hoàn cảnh, do vậy thường phức tạp hơn, trừu tượng hom, khó đo lường trực tiếp. Để định lượng, chúng ta cần thang đo. Thang đo phổ biến sử dụng để đo lường trong khoa học giáo dục là thang định hạng (ordinal scale) và thang định khoảng (interval scale). Thang định hạng là thước đo sắp xếp năng lực hay phẩm chất của người học ờ một lĩnh vực học tập nào đó theo mức độ từ thấp đến cao (khoảng cách giữa các mức độ chi là tương đối và không xác định được). Ví dụ: khi chúng ta đánh giá hạnh kiểm người học theo các mức: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu là đang sử dụng một thước định hạng. Khoảng cách giữa một học sinh có hạnh kiếm Tổt với một học sinh có hạnh kiểm Khá không xác định được chính xác và có thể không bằng với khoảng cách giữa một học sinh hạnh kiểm Khá với một học sinh hạnh kiểm Trung bình. 26
  • 29. là thước đo có khoảng cách bằng nhau nhàm so sánh độ lớn sự chênh lệch giữa cá nhân này và cá nhân kia. Ví dụ: một bài kiểm tra toán có 10 câu hòi, trả lời mồi câu được 1điểm. Đây là một thước đo định khoảng, có khoảng cách được ước lượng chính xác hơn. Ví dụ: một học sinh trà lời đúng được 7 câu - 7 điểm, sẽ cao hơn một học sinh khác chỉ trả lời được 5 câu - 5 điểm, với khoảng cách sự chênh lệch là 2 điểm. Tuy nhiên đo lường trong khoa học giáo dục không có thang ti lệ (thang đo có số 0 tuyệt đối - ratio scale). Một học sinh được 0 điểm môn Toán không có nghĩa rằng học sinh đó không có một chút kiến thức nào về toán học mà chi có thể hiểu là kiến thức toán của học sinh này thấp, không thích hợp khi dùng thước đo này. Nếu có những câu hỏi dễ hơn, em học sinh đó vẫn có thể đạt được một số điểm nhất định trong môn Toán. Từ đó, chúng ta cần phải có sự cân nhắc khi so sánh điểm số cùa một học sinh đạt được ở những môn học khác nhau, hoặc giữa các học sinh ở các lớp khác nhau, không thể đơn giản sử dụng điểm thô (mà cần phải tính điểm z - điểm chuẩn hoá). Đo lường trong khoa học giáo dục sử dụng hai loại tham chiếu: tham chiếu theo chuẩn (norm reference) và tham chiếu theo tiêu chí (criterion reference). Tham chiếu theo chuẩn là đối chiểu kết quả đạt được của người này với những người khác, ứng với loại tham chiếu này là các đề thi chuẩn hoá, ví dụ: thi tuyển sinh đại học, thi tiếng Anh TOEFL... Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của học sinh với mục tiêu, yêu cầu của bài học. ứng vói loại tham chiểu này là các đề thi theo tiêu chí, ví dụ: các bài thi, bài kiểm tra do giáo viên thiết kế, sử dụng trong lớp học. 27
  • 30. (test) Trắc nghiệm là một kiểu đo lường có sử dụng những thủ pháp/những kĩ thuật cụ thể, có tính hệ thống nhằm thu thập thông tin và chuyển những thông tin này thành các con số hoặc điểm số để lượng hoá cái cần đo. Trắc nghiệm có sự khác biệt với các kĩ thuật đánh giá khác như quan sát, phỏng vấn, chủ yếu là mức độ kiểm soát được dùng trong suốt quá trình thu thập thông tin. Trong trắc nghiệm có những câu hỏi, đề mục (gọi là item) hay những tình huống phải giải quyết, những phương án phải lựa chọn hay những nhiệm vụ phải hoàn thành và một thủ tục hướng dẫn, cho điểm thống nhất cho từng câu trả lời. Trắc nghiệm có thể được thiết kế dưới dạng ngôn ngừ hay phi ngôn ngữ, dưới dạng khách quan hay chủ quan (còn gọi là trắc nghiệm phóng chiếu - projection test). Theo Nitko & Brookhart (2007), trắc nghiệm là một công cụ hoặc một thủ pháp có tính hệ thống cho việc quan sát và mô tả một hoặc một số đặc tính của một học sinh, sử dụng một thang đo được điểm hoá theo mức độ hoặc một sơ đồ phân loại theo tiêu chí. Trắc nghiệm có thể làm với từng học sinh, trường hay một quốc gia. 1.4.3. Kiểm tra (testing) Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “kiểm tra là hoạt động đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định cỡ một hay nhiều đặc tính của sản phẩm và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự phù hợp cùa mỗi đặc tính”. Khái niệm này liên quan nhiều hom đến việc kiểm tra sản phẩm sau khi sản xuất hoặc đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn so với mục tiêu đề ra. 28
  • 31. nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục có những cách hiểu sau đây: - Kiểm tra là quá trình đo lường kết quả thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn, mục tiêu đã đề ra nhằm phát hiện những gì đã đạt được, chưa đạt được, nguyên nhân, các yếu tố ảnh hường/chi phổi... từ đó đưa ra biện pháp điều chinh, khắc phục nhàm đạt được mục tiêu. - Kiểm tra là hoạt động đo lường kết quả học tập/giáo dục theo bộ công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích đưa ra các kết luận, khuyến nghị về một mặt nào đó của quá trình dạy học/ giáo dục, tại một thời điểm cụ thể để điều chinh nhàm đạt các mục tiêu giáo dục đã đề ra. - Kiểm tra năng lực học tập của học sinh về một lĩnh vực nào đó, tại thời một điểm cụ thể là xem xét học sinh đạt được những kiến thức, kĩ năng, thái độ như thế nào so với mục tiêu/chuẩn đã đề ra, từ đó có kế hoạch giúp học sinh cải thiện thành tích học tập nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Kiểm tra trên lớp học có nhiều dạng. Theo Peter w. Airasian (1999), kiểm tra trên lớp học là quá trình dùng giấy bút có hệ thống, được sử dụng để thu thập thông tin về sự thể hiện kiến thức, kĩ năng của học sinh. Bài kiểm tra (15 phút, 1 tiết...) thường là một trong những công cụ phổ biến, được giáo viên sử dụng để thu thập thông tin, vì thế, bài kiểm tra cũng chính là một cách đánh giá. Ngoài ra, ữên lớp học, giáo viên cũng hay sử dụng các cách kiểm tra quan trọng khác là quan sát, vấn đáp, ra bài tập và sưu tập các sản phấm của chính học sinh làm. Trong giáo dục, kiểm tra thường gắn với việc tìm hiểu và làm rõ thực trạng, các kết quả kiểm tra trên lớp học được sử dụng 29
  • 32. kịp thòi hoạt động dạy và học hướng tới đạt mục tiêu đã đặt ra. Nội dung kiểm tra không chỉ giói hạn ở kiến thức hay các phẩm chất trí tuệ của người học mà còn có thể là thái độ, ý thức, xúc cảm, tình cảm... Kiểm tra có thể thực hiện nhiều lần, trong một lớp học/khoá học, kiểm tra có thể là thường xuyên hay định kì. Đôi khi người bị kiểm tra cũng không nhất thiết phải biết hay phải chuẩn bị cho hoạt động kiểm tra (chính thức hoặc không chính thức, báo trước hoặc không báo trước). Kết quả của kiểm tra được sử dụng để phản hồi, làm các quyết định giáo dục như: đánh giá xếp loại, giải trình, báo cáo, tư vấn. Như vậy, dù có những cách nhìn khác nhau nhưng tổng hợp lại, kiểm tra là quá trình xem xét, tổ chức thu thập thông tin và gan với hoạt động đo lường để đưa ra các kết quả, so sánh, đoi chiếu với yêu cầu, mục tiêu hay chuán đã đề ra, với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chua đạt được, những nguyên nhân, các yếu to ảnh hưởng/ chi phối... 1.4.4. Đánh giá (assessment) Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “đánh giá” và được xét trên những góc độ rộng, hẹp khác nhau: đánh giá nói chung, đánh giá trong giáo dục, đánh giá trong dạy học và đánh giá kết quả học tập. * Khái niệm đánh giá hiếu theo nghĩa chung nhất: có thể kể ra một số định nghĩa sau: - Theo quan niệm của triết học. đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ. Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động. 30
  • 33. thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt: Thuật ngữ “assessment” có nghĩa là đánh giá. Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, theo những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhàm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. - Theo K. Ulbrich: “Đánh giá là hệ thống hoạt động nhàm thu thập số liệu, sản phẩm, báo cáo có giá trị thực về sự hiểu biết và nắm vững những mục tiêu đã đề ra”. - Theo Jean - Marie De Ketele (1989): Đánh giá có nghĩa là “thu thập một tập họp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy, xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay đã được điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm đưa ra một quyết định”. - Theo C.E. Beeby (1997): “Đánh giá là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động”. - Theo Peter w. Airasian (1997): Đánh giá (assessment) là quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định. Thuật ngữ “assessment” trong tiếng Anh có thể bao gồm cả đánh giá định tính như: quan sát, kiểm ưa, đo lường và đánh giá mang tính định lượng như đánh giá bằng điểm số. Ví dụ: kiểm ưa, cho điểm học sinh bằng trắc nghiệm khách quan. Do đó, “assessment” có khi được dịch là đánh giá, cố klú là kiểm tia, có khi là kiểm ua đánh giá luỳ theo văn cảnh. * Trong giáo dục, đánh giá được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: 31
  • 34. trong giáo dục xuất hiện khi có một nguời tương tác trực tiếp hay gián tiếp với người khác nhằm mục đích thu thập và lí giải thông tin về kiến thức, hiểu biết, kĩ năng và thái độ của người đó . - Theo Ralph Tyler (1950), nhà giáo dục và tâm lí học Mĩ: “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong các chương trình giáo dục”. - Theo R. Tiler (1984), quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục. - Theo Marger (1993), đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để quyết định công việc cần phài tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ. - Xét từ bình diện chức năng, mục đích cũng như đối tượng: “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục, cân cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chinh, bổ sung, hoàn thiện những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo”.2 * Trong dạy học, đánh giá được xem xét như một quá trình liên tục và là một phần của hoạt động giảng dạy. Chẳng hạn: - Theo R.F. Marger: “Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ”. 1 David Dean, Những phát triển quốc tế trong thực tiễn đánh già học sinh, Tài liệu Hội thảo đánh giá học sinh, Dự án Hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, tháng 7/2002 2 Dự án Phát triển Giáo dục Trung học cơ sở, Một số vấn đề chung về đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, Hà Nội, 2006. 32
  • 35. & Brookhart (2007), đánh giá trong giáo dục là một khái niệm rộng, nó được định nghĩa như là một quá trình thu thập thông tin và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà trường và đưa ra các chính sách giáo dục. Các quyết định liên quan đến học sinh bao gồm quản lí hoạt động giảng dạy trong lóp, xêp lớp (xếp chồ cho học sinh vào các chương trình học khác nhau), hướng dẫn và tư vấn, tuyển chọn học sinh để câp học bổng... xác nhận năng lực của học sinh. Tóm lại, đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tong hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (hiêu biết hay năng lực cùa học sinh, chương trình, nhà trường...) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiếu biết sâu và sừ dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục. Đánh giá trong lớp học là một thuật ngữ chung, đó là một quá trình thu thập, tống hợp, diễn giải thông tin hay dữ liệu liên quan đến việc học tập và trải nghiệm cùa học sinh nhằm mục đích phát triển một sự hiểu biết sâu về điều gì học sinh biết, học sinh hiểu và học sinh có thể làm được, như là kết quả cùa sự trải nghiệm giáo dục của chính các em, đế đưa ra quyết định giáo dục liên quan đến học sinh. Như vậy, đánh giá bao gồm tất cả các cách thức giáo viên thu thập và sử dụng thông tin trong lớp của mình, bao gồm các loại thông tin định tính, thông tin định lượng thu thập đưực trong quá trinh giáng dạy ưên lớp học nhàm đưa ra những phán xét, nhận định, quyết định. Các thông tin này được chính học sinh sừ dụng để cải tiến việc học tập tiếp theo của mình, đồng thời giúp giáo viên hiểu học ưò mạnh 33
  • 36. điểm gì để lập kế hoạch giảng dạy và theo dõi điều chinh việc giảng dạy của mình... phân loại, xếp hạng và thiết lập một môi trường tương tác văn hoá - xã hội giúp cho học sinh học tập tiến bộ. 1.4.5. Định giá trị (evaluation) Định giá trị là một quá trình đưa ra sự phán xét, nhận định về giá trị cùa một người nào đó hoặc một cái gì đó sau một quá trình kiểm tra đánh giá. Nó bao hàm việc thu thập, phân tích thông tin và đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuấn đề ra, nhằm xác định giá trị của một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, một quy trình, một mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một lí thuyết..., từ đó có thê đê xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chinh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Như vậy, trong khái niệm đánh giá đã bao hàm cả đo lường và kiểm tra (thu thập thông tin, đối chiếu vói mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra). Nói khác đi, đo lường và kiểm tra là một trong số các bước cần được tiến hành trong quá trình đánh giá. Tuy nhiên, đánh giá phải đi đến sự phán quyết, nhận định về giá trị, vì thế, cần phải thu thập nhiều loại thông tin hơn và việc xử lí những thông tin này dựa trên nhiều tiêu chuẩn, đối chiếu với nhiều mục tiêu, từ đó mới có những phán quyết, quyết định thích hợp có giá trị. Theo Peter w. Airasian (1999), định giá trị là quá trình nhận xét chất lượng hoặc giá trị của việc thể hiện kiến thức, kĩ năng hay một chuỗi hành động. Khi các thông tin đánh giá đã được thu thập, giáo viên sẽ sử dụng nó để ra quyết định hoặc cho ý kiến nhận xét về học sinh, về việc giảng dạy, hoặc về không khí trong lớp học. 34
  • 37. là quá trình cho ý kiến phán xét về giá trị. Định giá trị xuất hiện khi đã thu thập, tổng hợp và xem xét đầy đủ các thông tin đánh giá, bởi vì, đây là lúc giáo viên ở vào vị trí đưa ra ý kiến phán xét về giá trị dựa trên cơ sở đã có đầy đủ thông tin hữu ích, tin cậy. Ví dụ: Một giáo viên muốn kiểm tra khả năng học môn Toán cùa một học sinh để quyết định xem nên bắt đầu dạy em này từ đâu. Chú ý: Lí do để kiểm tra là đưa ra được quyết định đúng. Đầu tiên, giáo viên cho em này làm một bài kiểm tra viết (phù họp với trình độ của học sinh) để đánh giá khả năng toán học. Giáo viên cũng sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá khác để xác định khả năng toán học của học sinh này. Giáo viên trò chuyện với học sinh này về môn Toán, theo dõi em khi đang làm bài tập Toán, kiểm ưa thứ hạng và điểm số các bài kiềm tra môn Toán trước đây của em ưong hồ sơ kết quả đánh giá học sinh của nhà trường. Sau đó, giáo viên tổng hợp tất cả thông tin đánh giá đã thu thập được để nhận định hoặc đưa ra ý kiến về khả năng hiểu biết ưong môn Toán của học sinh đó. Quyết định cuối cùng cùa giáo viên là một phán xét về giá trị, dựa trên các bài kiểm tra và các đánh giá khác nhau, để đề nghị em học sinh đó tham gia lớp học bổ trợ (lóp đặc biệt có sự can thiệp, hỗ trợ của các chuyên gia tâm lí học đường) để giúp em theo kịp các bạn khác trong lớp. 35
  • 38. két quả điểm sỗ này cóthể két hợpvới kinh nghiệm của giáo viẻn đề phán xét giá trị (ý nghĩa) kết quả (thành tích) họctập của họcsinh, quá trình này gọi là: I Định giá trj (evaluation) Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các khái niệm (thuật ngữ): đánh giá (assessment), trắc nghiệm (test), đo lường (measurement) và định giá trị (evaluation) (Nguồn: Niko, 2011). 36
  • 39. hình đánh giá (types of assessment) trong giáo dục Có nhiều cách phân loại các kiểu/loại hình đánh giá trong giáo dục dựa vào các đặc điểm như: quy mô, vị trí của người đánh giá; đặc tính của câu hỏi; tính chất thường xuyên hay thời điểm hoặc tính chất quy chiếu của mục tiêu đánh giá... Đánh giá trong giáo dục thường có một số loại hình chính sau: - Đánh giá tổng kết (summative assessment) và đánh giá quá trình (formativeassessment). - Đánh giá sơ khởi (placement assessment) và đánh giá chẩn đoán (dignostic assessment). - Đánh giá dựa theo chuẩn (norm - referenced assessment) và đánh giá dựa theo tiêu chí (criterion - referenced assessment). - Đánh giá chính thức (formalassessment) và đánh giá không chính thức (informalassessment). - Đánh giá khách quan (objective assessment) và đánh giá chủ quan (subjective assessment). - Đánh giá trên lớp học (classroom assessment), đánh giá dựa vào nhà trường (school - based assessment) và đánh giá ưên diện rộng (broad assessment). - Đánh giá cá nhân (individual assessment) và đánh giá nhóm (institutional assessment). - Suy ngẫm, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng. - Đánh giá xác thực (authentic assessment). - Đánh giá sáng tạo (alternative assessment). 1.5.1. Đánh giá tổng kết và đánh giá quá trình Xét theo tính liên tục và thời điểm đánh giá thì đánh giá trong giáo dục thường được chia thành các loại là đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. 37
  • 40. tổng kết (summative assessment) Đánh giá tổng kết hay còn gọi là đánh giá kết quả là đánh giá có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về sự tinh thông/thành thạo của học sinh ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết thúc một khoá/lớp học hoặc một môn học/học phần/chương trình. Đánh giá tổng kết thường được thực hiện vào cuối một khoá/lớp học (khi kết thúc một khoá/lớp học) hoặc cuối kì (khi kết thúc một học trình, một môn học hay một học kì, một dự án...). Mục tiêu chính của đánh giá tổng kết là xác định mức độ đạt thành tích của học sinh, nhưng không quan tâm đến việc thành tích đó đã đạt được ra sao và kết quả đánh giá này được sử dụng để công nhận người học đã hoặc không hoàn thành khoá/lớp học. Đây là hình thức đánh giá bàng cách cho điểm và có thể dùng điểm để so sánh với những học sinh khác trong cùng nhóm đối tượng, nhàm xếp loại người học. 1.5.1.2. Đánh giá quá trình (formative assessment) Đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học/khoá học, cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy. Đánh giá quá trình thường được thực hiện trong quá trình giảng dạy môn học/hay khoá học/lớp học. Đánh giá quá tình, còn được gọi là “đánh giá giáo dục” được thực hiện để hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đánh giá quá trình có thể do giáo viên hoặc đồng nghiệp hay do người học cùng thực hiện, cung cấp thông tin phản hồi về hoạt động học tập của người học và không nhất thiết được sử dụng cho mục đích xếp hạng, phân loại. 38
  • 41. giá quá trình chi những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện trong quá trình dạy học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động kiểm tra đánh giá trước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (placement assessment - đánh giá sơ khởi/đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học này (summative assessment - đánh giá tong kết). Đánh giá quá trình cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh, mỏi quan tâm của đánh giá quá trình là hiệu quả của hoạt động giảng dạy trong việc phát triển khả năng cùa người học, chứ không phải là việc chứng minh học sinh đã đạt được một mức độ thành tích nào đó. Trong đánh giá quá trình, việc thu thập thông tin hoặc dữ liệu về hoạt động học tập cùa người học trong lớp được sử dụng để cải thiện hoạt động dạy và hoạt động học. Đánh giá quá trình không nhằm mục đích đưa ra kết luận về kết quả giáo dục cuối cùng cùa từng học sinh mà tập trung vào việc tìm ra những nhân tổ tác động đến kết quả giáo dục của học sinh để có những giải pháp kịp thòi, đúng lúc, giúp cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục, dạy học. Đánh giá quá trình còn giúp chẩn đoán hoặc đo kiến thức và kĩ năng hiện tại của học sinh nhằm xác định một chương trình học tương lai cho phù hợp. Trong một môi trường giáo dục, đánh giá quá trình có thể là việc người giáo viên hoặc chính người học cung cấp thông tin phản hồi về việc học tập của người học và không nhất thiét dẫn tới việc cho điểm, tíánh giá quá trinh mang tính dự đoán. Đánh giá quá trình cung cấp thông tin phản hồi cho người học về mức độ nắm vững thông tin của họ, những lĩnh vực 39
  • 42. đồng thời giúp giáo viên thiết kế phương pháp giảng dạy phù hợp hơn. Việc đánh giá trở nên ý nghĩa và phù hợp hơn nếu người học cùng tham gia đánh giá chính bản thân mình. Khi người học đảm nhận vai trò tích cực trong việc xây dựng tiêu chí chấm điểm, tự đánh giá, đề ra mục tiêu, điều đó cũng có nghĩa là người học sẵn sàng chấp nhận cách thức đã được xây dựng để đánh giá khả năng học tập của họ. a) Một số đặc điểm của đánh giá quá trình - Việc đề ra mục tiêu ngắn hạn (nếu có thể thì kết hợp với người học) được thực sự hiểu rõ và có kèm theo hướng dẫn phù hợp. - Các nhiệm vụ được đề ra nhằm mục đích mờ rộng, nâng cao hoạt động học tập. - Việc chấm điểm/cung cấp thông tin phản hồi chi ra các nội dung cần chinh sửa, đồng thời, đưa ra lời khuyên cho hành động tiếp theo (ngay trước mắt) thông qua đối thoại thường xuyên. - Đánh giá quá trinh nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bài học và phương hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa. b) Một số cách thức đánh giá quá trình Nhàm cung cấp cho người học và giáo viên những thông tin họ cần để cải thiện kết quả học tập: - Cách thức tìm hiểu nhu cầu của người học, thông qua những phiéu hỏi, bảng kiểm, trả lời nhanh Iiliững câu hỏi mở, động não. Ví dụ (xem Phụ lục 10). - Cách khích lệ tự định hướng như tự suy ngẫm, tự đánh giá, thông tin phản hồi của bạn bè và học tập hợp tác. 40
  • 43. sát sự tiến bộ như dự giờ, nhật kí học tập, kế hoạch học tập, sổ theo dõi học tập. —Cách kiểm tra sự hiểu biết như hồ sơ học tập, phiếu kiêm tra, phiếu quan sát chuyên san, phỏng vấn, chất vấn. Đánh giá tổng kết và đánh giá quá trình trong một bối cảnh học tập thường được gọi lần lượt là đánh giá về kết quả học tập và đánh giá vì quá trình học tập hay V/ sự tiến bộ cùa người hục. Đánh giá về kết quả học tập thường có bản chất tông kết và nhàm mục đích đo lường kết quả học tập của người học, xếp loại học sinh, đồng thời thông báo kết quả đánh giá đó cho người học, phụ huynh và cán bộ quản lí. Đánh giá về kết quả học tập thường diễn ra khi kết thúc một chương, phần, học ki hay năm học. Đánh giá vì quá trình học tập hay vì sự tiến bộ cùa người học lại mang bản chất thường xuvên và được giáo viên thực hiện nhàm rà soát điều chinh phương pháp giảng dạy cũng như lên kế hoạch giảng dạy tiếp theo cho từng người học và cả lóp. 1.5.2. Đánh giá sơ khởi và đánh giá chẩn đoán 1.5.2.1. Đánh giá sơ khởi (placement assessment) - kiểm tra chất lượng đáu năm học Trọng tâm cùa giáo viên ứong những ngày đầu năm học là tìm hiểu tùng học sinh và nhóm nói chung để tổ chức lớp học thành một tập thể lớp học có nền nếp. Vì thế, một dạng thức kiểm tra đánh giá trong lớp học rất quan trọng và được xem xét kĩ, mọi giáo viên phải hoàn thành vào đầu năm học đặt nền móng cho các hoạt động cùa lớp học và các hoạt động giao tiếp trong suốt thời gian còn lại của năm học là kiểm tra chất lượng đầu năm học hay còn gọi là đánh giá sơ khởi. Đánh giá sơ khởi tạo ra một tập hợp những hiểu biết và yêu cầu ảnh hưởng đến cách thức mà giáo viên sẽ lên kế hoạch, 41
  • 44. giao tiếp với học sinh trong suốt năm học (Good & Brophy, 1997). Cuối cùng, mục đích của đánh giá sơ khởi là: giúp giáo viên tìm hiểu học sinh để có thể tổ chức các em lại thành một lớp học nhằm tác động, thúc đẩy hoạt động học tập của các em. Đặc điểm của đánh giá sơ khởi: - Đánh giá sơ khởi được thực hiện vào đầu năm học. Hầu hết giáo viên đều có thể mô tả lại đặc điểm cá nhân, xã hội, khả năng học tập cùa từng học sinh hoặc cả lớp sau hai tuần đầu tiên của năm học. - Đánh giá sơ khời là một hoạt động lấy học sinh làm trung tâm. Đánh giá này tập trung chủ yếu vào học sinh và đặc điểm của các em. - Sử đụng quan sát không chính thức. Nhiều thông tin về hành vi và kĩ năng thực hành cùa học sinh được thu thập thông qua các quan sát không chính thức và tự phát. - Các quan sát sau đó được tổng hợp thành nhận thức. Giáo viên tổng hợp tất cả các quan sát của mình lại theo một cách riêng để hình thành sự hiểu biết chung về học sinh. - Giáo viên thường ít ghi lại ấn tượng của mình. Khác với điểm số và thứ hạng thường được ghi chép lại trong sổ xếp hạng hay bảng báo cáo, nhận thức hình thành trong quá trình đánh giá sơ khởi thường ít được ghi lại và chia sẻ một cách chọn lọc. - Các quan sát rất rộng và đa dạng. Giáo viên thường chú trọng đến một loạt đặc điểm về nhận thức, tình cảm và đặc điểm tâm vận động khi họ đánh giá sơ khởi học sinh. - Các ấn tượng đầu tiên thường tồn tại lâu dài. Giáo viên rất tin tưởng vào độ chính xác của đánh giá sơ khởi, họ thực hiện định kì vào tuần đầu của năm học. Những hiểu biết ban đầu này thường ít thay đổi từ tuần đầu tiên cho đến hết năm học. 42
  • 45. sơ khởi tạo nền tảng cho việc đưa ra nhiều nhận xét quan trọng trong suốt năm học nên giáo viên phải có trách nhiệm đạo đức để đưa ra những nhận xét càng có giá trị và tin cậy càng tốt. Tuy nhiên, một quá trình đánh giá dựa ưên những chứng cứ được thu thập trong thời gian ngan và thường không đầy đủ có nguy cơ dẫn đến quyết định thiếu chính xác, không có giá trị và không đáng tin cậy về học sinh. Stiggins (1997) lưu ý ràng, các quan sát cá nhân và những trao đổi với học sinh cung cấp rất nhiều thông tin về các em. Ồng sử dụng thuật ngừ “giao tiếp cá nhân” để mô tả các hình thức trao đổi giữa giáo viên - học sinh phổ biến: vấn đáp, trao đoi, thào luận trong lớp, kiếm tra miệng, nhật kí học sinh, trò chuyện vói những người biết về em học sinh hoặc các em học sinh đó. Đây là những hình thức giao tiếp giữa học sinh và giáo viên thường được sử dụng một cách có ý thức hoặc vô thức để cung cấp thông tin cho các đánh giá sơ khời của giáo viên. Giáo viên có thể thu thập được loại thông tin nào về học sinh từ một ưong sáu hình thức giao tiếp cá nhân trên đây? Tuy nhiên, Stiggins cũng có lí khi chi ra rằng giao tiếp cá nhân là một chiến thuật kiểm tra đánh giá trong lớp học mang tính chủ quan. Tóm lại, đánh giá sơ khởi phần lớn dựa trên những thông tin thu thập được vào đầu năm học, giáo viên hình thành những đánh giá này khá nhanh, họ sử dụng chúng để “biết” về học sinh và một khi những đánh giá này hình thành, chúng tồn tại khá bền vững. Đánh giá sơ khỏi quyết định nhận thức và kì vọng về học sinh, ngược lại chúng cũng ảnh hường đến cách giáo viên giao tiếp với học sinh. Đánh giá sơ khởi ảnh hường nhiều đến việc đặt kì vọng, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, tác động đến thành tích và quá trình tự nhận thức 43
  • 46. do đó việc xem xét thật kĩ các nguy cơ cố hữu trong quá trình đánh giá sơ khởi và các chiến lược giáo viên có thể sừ dụng để cải thiện đánh giá ban đầu của mình là rất quan trọng. 1.5.2.2. Đánh giá chẩn đoán (dignostic assessment) Đánh giá chẩn đoán là loại hình kiểm tra đánh giá kiểu thăm dò, phát hiện thực trạng, có tính định kì, hoặc trước khi bắt đầu một đề án, dự án hay chương trình đổi mói, có thể tiến hành với cá nhân hoặc nhóm (lớp, trường, quận, tỉnh, quốc gia) nhằm cung cấp các thông tin về điểm mạnh, điểm yếu... cùa học sinh tại thời điểm đánh giá theo chuẩn hoặc tiêu chí. Công cụ dùng cho đánh giá chẩn đoán dù tiến hành với cá nhân, nhóm nhỏ, hay nhóm lớn đều đòi hỏi tính chuẩn khi thiết kế, đảm bảo độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt và độ giá trị đáp ứng các tiêu chuẩn đo lường. Đánh giá chẩn đoán có mục tiêu rất gần với đánh giá tổng kết, đánh giá thành tích học tập, đánh giá chính thức. Kết quả của đánh giá chẩn đoán thường được so sánh với chuẩn, hay chuẩn tương đối (norm - những đối tượng cùng được đánh giá trên một mẫu đại diện). Các thang đánh giá chuẩn hoá như Thang đánh giá trí thông minh dành cho trẻ em của Wechsler (WISC-IV) là những công cụ tốt phục vụ mục đích đánh giá chẩn đoán, dự báo. Hầu hết các đánh giá chuẩn hoá tiến hành trên cá nhân hay nhóm là các đánh giá kiểu chẩn đoán, đều đòi hỏi người đánh giá phải được đào tạo và có kinh nghiệm. Một số công cụ đánh giá cá nhân như thang WISC-IV... chi có thể do những người được đào tạo có chứng chi/giấy phép mói được thực hiện. 44
  • 47. dựa theo chuẩn và đánh giá dựa theo tiêu chí Xem xét dựa theo chuẩn tương đối của nhóm người cùng được đánh giá và chuẩn về mức độ thành thạo đáp ứng chuẩn mực như mong đợi thì đánh giá trong giáo dục được chia thành các loại là đánh giá dựa theo chuẩn và đánh giá dựa theo tiêu chí. 1.5.3.1. Đánh giá dựa theo chuẩn (norm - referenced assessment) Đánh giá dựa theo chuẩn là so sánh thành tích của các đối tượng cùng được đánh giá với nhau. Đó là hình thức đánh giá đưa ra những nhận xét về mức độ cao hay thấp trong năng lực của cá nhân so với những người khác cùng làm bài thi. Đây là hình thức đánh giá kết hợp với đurờng cong “phân bố chuẩn”, trong đó giả định rằng một số ít sẽ làm bài rất tốt và một số ít sẽ rất kém, số còn lại sẽ nằm ờ khoảng giữa, thường được đánh giá là trung bình. Có hai hình thức so sánh trong đánh giá dựa theo chuẩn: 1) So sánh thành tích cùa cá nhân này với cá nhân khác trong nhóm mẫu khảo sát, ví dụ: so sánh kết quả các thí sinh cùng tham gia tuyển sinh vào một trường đại học hoặc cao đẳng; 2) So sánh thành tích cá nhân trong tương quan với nhóm đại diện, ví dụ: so sánh kết quả cùa một học sinh với điểm trung bình cùa nhóm mẫu đại diện (chuẩn tương đổi). Vì vậy, đánh giá dựa theo chuẩn mực có hai đặc trưng: 1) Công cụ đánh giá là bộ test đã chuấn hoá (hoặc có tính chuẩn) - có khả năng suy rộng cho tổng thể; 2) Bộ test càng phân biệt một cách rõ ràng giữa những học sinh với các năng lực khác nhau thì kết quả so sánh càng chính xác. 45
  • 48. đo IQ, CQ, EQ... trên nhóm mẫu đại diện vùng, quốc gia là ví dụ rõ nhất về đánh giá theo chuẩn. Hình 1.1: Phăn phối chuẩn Khác với hình thức đánh giá theo tiêu chí, đánh giá theo chuẩn tạo nên một sự căng thẳng nhất định trong mối quan hệ giữa các học sinh với nhau. Các em bắt đầu xem nhau là đối thủ cạnh ưanh và tình bạn thường bị mất đi. Điều này sẽ làm hạn chế tính hợp tác trong học tập của các em. Đánh giá theo chuẩn: thường là những câu hỏi trắc nghiệm khách quan và có đáp án trả lời ngẳn gọn. Vì thế, nó khó có thể đánh giá được các năng lực của học sinh, chẳng hạn như: - Kĩ năng phân tích và diễn giải thông tin về các nguyên nhân của sự vật, hiện tượng. - Kĩ năng thực hiện và báo cáo về một thực nghiệm khoa học, hay một dụ án về môi trường. - Kĩ năng viết một bài báo nghiên cứu. - Kĩ năng thảo luận... Nhiều cuộc thi đầu vào (để vào được các trường phổ thông hoặc đại học danh tiếng) có tính chất tham chiếu chuẩn, cho phép một ti trọng cố định người học được công nhận đồ vào trường, thay vì thể hiện một mức độ khả năng rõ ràng. 46
  • 49. nghĩa với việc các tiêu chuẩn/chuẩn có thể khác giữa năm này với năm khác, tuỳ thuộc vào chất lượng của đợt tuyển sinh; trong khi đó việc đánh giá theo tiêu chí (criterion - referenced assessment) không khác nhau giữa các năm (trừ khi chính các tiêu chí này được thay đổi). 1.5.3.2. Đánh giá dựa theo tiêu chí (criterion - referenced assessment) Người học được đánh giá dựa trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng về thành tích đạt được so với chuẩn đầu ra hay mục tiêu đã đề ra, thay vì được xếp hạng trên cơ sở kết quả thu được của những học sinh thuộc mẫu khảo sát. Khi đánh giá theo tiêu chí, chất lượng thành tích không phụ thuộc vào mức độ cao thấp về năng lực của những người khác, mà phụ thuộc vào mức độ cao thấp cùa chính người được đánh giá so với các tiêu chí cụ thể. Trong đánh giá dựa trên tiêu chí, hoạt động học tập của học sinh được so sánh với mục tiêu học tập cố định, ờ đó xác định rõ ràng những gì học sinh cần biết, cần hiểu và có thể làm. Các tiêu chí (dựa theo mục tiêu hoặc chuẩn) là cơ sờ đánh giá thành công và tiến bộ trong học tập của học sinh. Các tiêu chí xác định rõ các yêu cầu cơ bản hay sản phẩm cần đạt được trong quá trình học tập. Bộ công cụ dùng để đánh giá dựa trên tiêu chí chính là bài test hoặc thang đo mô tả chi tiết từng mức độ được thiết kế dựa theo các mức độ đáp ứng tiêu chí. Thông thường, nhưng không phải luôn luôn, đánh giá theo tiêu chí được áp dụng để xác lập một mức độ hiểu biét, kl nang hoặc năng lực cùa một cá nhân (liệu người này có thể làm được điều gì đó hay không). Làm thế nào giúp giáo viên thiết kể phiếu hướng dần đánh giá theo tiêu chí? 47
  • 50. dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubric) Đây là một công cụ đánh giá thể hiện các yêu cầu về chất lượng. Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí giúp người học tự định hướng và tự đánh giá cũng như làm công cụ giao tiếp giữa người học và giáo viên. Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí là một tập hợp các tiêu chí (được cụ thể hoá thành các chỉ báo, chỉ số hay các biểu hiện hành vi có thể quan sát, đo đếm được) thể hiện mức độ đạt được của mục tiêu học tập và được sử dụng để đánh giá hoặc thông báo về sàn phẩm, năng lực thực hiện hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người học. Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí bao gồm một hoặc nhiều khía cạnh như: năng lực thực hiện được đánh giá, các định nghĩa hoặc ví dụ làm sáng tỏ những yếu tố đang được đánh giá và một thang điểm cho từng khía cạnh. Các khía cạnh thường được gọi là tiêu chí, thang đánh giá được gọi là mức độ, định nghĩa được gọi là thông tin mô tả. b) Các mức độ trong phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí gồm các mức độ của năng lực thực hiện và các thông tin mô tả ứng với mồi mức độ. - Sử dụng các mức độ theo số chằn (thường là 4 hoặc 6) nếu cần phân biệt giữa hai thái cực: người học “Đạt” và “Chưa đạt”. - Sử dụng các mức độ theo số lẻ nếu muốn có một mức năng lực trung bình. - Các mức độ có thể là: Người mới bắt đầu/Người đang thử việc/Người thực hiện/Chuyên gia; Hoặc: Bắt đầu/Đang phát triển/Hoàn thiện/Mau mực... 48
  • 51. thang Likert 5 mức độ, tương ứng với các điểm số từ 1- 5, trong đó điểm 1là thấp nhất, điểm 5 là cao nhất. c) Các bước xây dụng một phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí giúp người học trở thành những người có kĩ năng đánh giá công việc của bản thân và của người khác, đồng thời, giảm thiểu lượng thời gian mà giáo viên cần có để đánh giá năng lực của người học. Sau đây là một quy trình gồm bảy bước để xây dựng và sử dụng một phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí: - Bước 1: Yêu cầu người học xem xét các mô hình, sản phầm “Tốt” và “Chưa tốt”. Giáo viên có thể cung cấp các bài làm mẫu với các mức độ chất lượng khác nhau để người học tham khảo. - Bước 2: Liệt kê các tiêu chí được sử dụng trong phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí và thảo luận về vấn đề, ví dụ như: Thế nào là một sản phẩm có chất lượng? Trong quá trình xây dựng danh sách tiêu chí, giáo viên cũng có thể bước đầu đánh giá được khả năng viết của người học. - Bước 3: Phân chia từng bước các mức độ chất lượng. Các mức độ phân bậc này cần phải mô tả chính xác mức độ chất lượng tương ứng (từ Kém đến Tốt). Thông tin mô tả này có thể dựa vào nội dung thảo luận về những mẫu sản phẩm “Tốt” và “Chưa tốt”. Việc sử dụng số lượng vừa phải các mức độ sẽ đảm bảo được phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí đó thân thiện với người dùng. - Bước 4: Áp dụng thử. Người học có thể thử nghiệm phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí đối với các bài làm mẫu do g-.áo viên cung cấp. Phần thực hành này có thể gây dựng 49
  • 52. của người học bằng cách chỉ cho các em cách giáo viên sẽ sử dụng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí để chấm bài làm của các em. Đồng thời, nó cũng thúc đẩy sự thống nhất giữa giáo viên và người học về mức độ tin cậy của phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí. - Bước 5: Sử dụng phiếu hướng dẫn đánh giá cho hoạt động tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng (đánh giá lẫn nhau). - Bước 6: Điều chinh công việc dựa trên thông tin phàn hồi thu được. Khi người học sửa bài của mình, giáo viên có thể yêu cầu các em dừng lại và tự đánh giá, sau đó cho và nhận thông tin đánh giá từ các bạn. Nội dung điều chinh cần phải dựa trên thông tin phản hồi mà các em nhận được. - Bước 7; Sử dụng để đánh giá việc giảng dạy của giáo viên. Giáo viên sử dụng chính phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí mà người học sử dụng để đánh giá công việc của mình. Đặc điểm của mộtphiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí được thiết kể tốt Phạm trù đánh giá Các tiêu chí đánh giá Cò/ KhAng Mứcđộ Hướngdỉn cócácmứckhácnhauđượcđặttênvàgiátrị điểmsỗkhống? riêu chí Cácthống tin mỏ tả có rõ ràng khống? Chúng có được thể hiện theo một chuỗi liên kỉt vầđảm bảochosựpháttriển củỉ người học khỏng? Thân thiện với người học Ngốn ngữcórõ ràng vầdễ hiểu cho người học khống? Thân thiện với giáo viẽn Hướng dỉn này có d ỉ sửdụng đối với giáo vién không? Tính phù hợp Hướng dỉn nằy cóthể đánh giá sản phẩm cồng việc được không? Nó có th ỉ đượcdùng đế đánh giá nhu cáu khống? Người học có thể xác định dễdầng những lĩnh vực phát triển cỉn thiết không? 50
  • 53. tiêu chí đánh giá nhiệm vụ trình bày theo nhóm. Nhiệm vụ: Trình bày theo nhóm Cáctiêuthíđánhgiá Có nhiéu thuật ngữ/khái niệm đâ dượcthảo luận trên lớp 5 3 1/0 Có ít thuật ngữ/khái niệm đã được thảo luận trên lớp Giải thích rõ ràng 5 3 1/0 Giải thích không rõ rầng Vẫn đé/giải pháp đươc xác định rò ràng 5 3 1/0 Vánđé/giải pháp khôngđược xácđịnh Người học dân dát phắn trình bày 5 3 1/0 Người học khống dân dát PowerPoint hô trợ bài trình bầy bài đọc PowerPoint) 5 3 1/0 PowerPoint chưa hô trợ Giọng nói rõ rằng 5 3 1/0 Giọng nói khó nghe Đượcbố cục rỗ ràng 5 3 1/0 Thiếu bó cục ró rầng Tỉtcầ người học tham gia 5 3 1/0 Tham gia không đóng đểu Tốngđiềm tấiđacóthể=40điềm 1.5.4. Đánh giá chính thức và đánh giá không chính thức 1.5.4.1. Đánh giá chính thức (formal assessment) Đánh giá chính thức là loại hình đánh giá có mục tiêu rất gần với đánh giá tổng kết hay đánh giá kết quả, dựa trên các thiết kế có dạng kiểm tra viết trên giấy, được chấm điểm, nhàm đưa ra kết luận phân loại về người học. Đánh giá chính thức thường liên quan các dạng kiểm tra (test) được dùng như thước đo chuẩn hoá. Những thước đo này có thể phải được thứ trước trẽn học sinh và dữ liệu sẽ được tính toán, thống kê, tổng kết nhằm đưa ra kết luận về học sinh so với các chuẩn cần đạt về độ tuổi hay lớp học và trong sự so sánh vói các bạn cùng độ tuổi hay lớp học. 51

Mục đích của việc kiểm tra đánh giá là gì?

Kiểm tra, đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống, để xác định mức độ đạt được về trình độ nắm kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng trình độ phát triển tư duy và trình độ được giáo dục của người học trong quá trình dạy học.

Mục đích của việc đánh giá học tập là gì?

Mục đích đánh giá nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định được kết quả học tập, rèn luyện của học sinh so với mục tiêu giáo dục và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.

Mục đích của kiểm tra là gì?

Kiểm tra là phương thức đặc biệt quan trọng, đảm bảo chất lượng thực hiện chuyên môn của các cơ quan khác nhau. Giúp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng.

Đánh giá kết quả dạy học là gì?

- Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập, xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, nguyên nhân của chất lượng, hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp và hoạt động giáo dục tiếp theo.