Ca sĩ nam nhật bản nổi tiếng là ai?

Vào “thời kỳ bong bóng” của Nhật Bản trong những năm 1980, đi kèm với sự thịnh vượng và sung túc trong lối sống vật chất là sự phong phú và mới mẻ trong lối sống tinh thần. Vào khoảng thời gian này, đã có những ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi lên, những người đã viết nên những bài hát đầy lạc quan và vui vẻ; với sự kết hợp giữa nhạc pop, soul, funk, rock và jazz của Nhật Bản và phương Tây đã tạo thành xương sống của nền âm nhạc J-pop mà bạn biết và yêu thích ngày nay!

Yamashita Tatsuro (山下 達郎)

Yamashita Tatsuro được mệnh danh là “Vua nhạc city pop” với những giai điệu tươi sáng và sôi nổi, đại diện cho sự bùng nổ của kỷ nguyên Bong bóng. Xuất thân từ Sugar Babe – một ban nhạc được thành lập cùng những nhạc sĩ nổi tiếng khác vào năm 1973 – sự nghiệp solo của Yamashita bắt đầu ở Hoa Kỳ, nơi ông thu âm album đầu tiên của mình, mang những ảnh hưởng mạnh mẽ từ ban nhạc Beach Boys và dòng nhạc soul. Nhưng phải đến khi bản hit năm 1980 “Ride on Time” của ông được giới thiệu trong một quảng cáo thì sự nổi tiếng của ông mới thực sự bùng nổ. 

Âm nhạc được xây dựng một cách nghệ thuật của Yamashita đã đứng vững trước thử thách của thời gian. Đặc biệt nhất phải kể đến bài hát “Christmas Eve” được ra mắt từ năm 1983 đến nay vẫn được người Nhật say mê nghe đi nghe lại, khi liên tục xuất hiện trong top 100 đĩa đơn bán chạy nhất thị trường âm nhạc Nhật Bản trong suốt 30 năm qua.  Yamashita cũng có rất nhiều bài hát tiếng Anh, mỗi lần giai điệu vang lên tựa như khiến người nghe bay bổng trong thế giới lấp lánh và êm dịu. Bạn có thể nghe thử ca khúc “Big Wave – một sự kết hợp của các bản cover và bản gốc bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó, ông cũng là một nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc nổi tiếng với nhiều hoạt động nổi bật trong J-pop suốt những năm qua. 

Matsutoya Yumi (松 任 谷 由 実)

Matsutoya Yumi, người khởi đầu sự nghiệp của mình với cái tên Arai Yumi, được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của J-pop thời hậu chiến. Là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi tiếng với chất giọng độc đáo và những bài hát trữ tình, Yuming (tên thân mật fan thường gọi) đã phá nhiều kỷ lục, như có tận 21 album đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, có album no.1 hàng năm trong suốt 18 năm liên tiếp, và là nghệ sĩ có album đầu tiên được chứng nhận “2x million” (bán ra hơn 2 triệu bản) bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm. 

Một số bài hát của cô đặc biệt nổi tiếng khi được dùng trong các bộ phim của Studio Ghibli, bao gồm “Rouge no Dengon” (ル ー ジ ュ の 伝 言) và “Yasashisa ni tsutsumaretanara” (優 し さ に 包 ま れ た な ら) của Kiki’s Delivery Service hay “Hikoukigumo” (ひ こ う き 雲) trong The Wind Rises. Với tư cách là một nhạc sĩ, cô cũng đã sáng tác ra rất nhiều ca khúc J-pop huyền thoại, chẳng hạn như những bài hát solo của Matsuda Seiko vào những năm 1980 như “Akai Sweet Pea” (赤 い ス イ ー ト ピ ー),….

Ohtaki Eiichi (大 瀧 詠 一)

Ohtaki Eiichi, ban đầu debut là một thành viên của nhóm Happy End, sau đó ông hoạt động solo trong những năm 70 và 80 và nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình. Đặc biệt là khi album “A Long Vacation” năm 1981 sau khi phát hành đã trở thành một hit lớn, sau được tái phát hành trong các ấn bản kỷ niệm 20 và 30 năm và thường xuyên được xếp vào danh sách một trong những album nhạc rock Nhật hay nhất mọi thời đại. Ohtaki cũng là một nhà sản xuất âm nhạc danh tiếng của nhạc pop Nhật Bản và có hãng thu âm riêng của mình – Niagara. 

Mặc dù ông đã giảm số lượng các bài hát được phát hành từ những năm 1990, nhưng “Shiawase na Ketsumatsu” (幸 せ な 結 末) được phát hành năm 1997 – ca khúc nhạc phim truyền hình “Love Generation”, đồng thời là single đầu tiên sau 12 năm của ông đã trở thành hit hàng đầu trên bảng xếp hạng Oricon bấy giờ, giữ vị trí thứ 2 trong hai tuần liên tiếp và bán được 970.000 bản.

Oda Kazumasa (小田 和 正)

Ca sĩ – nhạc sĩ Oda Kazumasa là trưởng nhóm folk-rock Off Course từ năm 1969 đến năm 1989, ông là giọng ca sáng tác đằng sau một số bài hát nổi tiếng của nhóm như “Sayonara” (さ よ な ら) và “Yes-No” suốt khoảng thời gian từ cuối những năm 70 và đầu những năm 80. 

Sau Off Course, ông tiếp tục sản xuất các ca khúc solo và một số tác phẩm trong đó đã trở nên cực kỳ nổi tiếng. Sáng tác của ông cho bộ phim truyền hình Fuji Television năm 1991, “Tokyo Love Story” và “Love Story ga Totsuzen ni” (ラ ブ ス ト ー リ ー が 突然 に) đã trở thành đĩa đơn bán chạy thứ 9 trong lịch sử Nhật Bản. Trong thế kỷ 21 hiện tại âm nhạc của ông vẫn có khả năng chạm đến trái tim nhiều người; năm 2016, ông trở thành nghệ sĩ lớn tuổi nhất có album đứng đầu bảng xếp hạng Oricon với “Ano Hi, Ano Toki” (あ の 日 あ の 時).

Nakajima Miyuki (中 島 み ゆ き)

Sự nghiệp lừng lẫy của Nakajima Miyuki bắt đầu vào năm 1975, bà cũng là người đã sáng tác nhiều ca khúc đình đám cho dòng nhạc J-pop Canon. Cho dù viết và biểu diễn các bản hit của riêng mình, như “Wakareuta” (わ か れ う た) năm 1977 và “Akujo” (悪 女) năm 1981, hay viết bài hát cho người khác, như một loạt các bản hit của Kudo Shizuka vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 90 (“FU-JI-TSU” và “Watashi ni tsuite” (私 に つ い て)), các đĩa đơn của Nakajima thường lọt vào top 10, với nhiều ca khúc thậm chí đứng đầu bảng xếp hạng. 

Được biết đến là đối thủ của Matsutoya Yumi, các bài hát của Nakajima được miêu tả là u ám và buồn bã, đặc biệt là trong những năm 1970 và 80. Tuy nhiên, một ví dụ khác biệt là ca khúc về tình yêu “Ito” (糸), một bản karaoke rất được yêu thích và là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên ra mắt vào năm 2020. Ngoài âm nhạc, Nakajima còn là người dẫn chương trình của “All Night Nippon” – một trong những chương trình radio hoạt động lâu nhất của Nippon Housou – suốt từ năm 1979 đến 1987. 

Tham khảo All About Japan

Amuro Namie (安室奈美恵 (An Thất Nại Mỹ Huệ), Amuro Namie?) (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977) là một ca sĩ nhạc Pop người Nhật Bản. Cô là biểu tượng thời trang và Diễn viên người Nhật Bản mà trong thời kì đỉnh cao sự nghiệp cô được mệnh danh "Nữ hoàng J-pop", "Madonna của Nhật" hay "Janet Jackson của Nhật".[1][2][3]

Ca sĩ nam nhật bản nổi tiếng là ai?
Amuro Namie

Amuro Namie năm 2017

Thông tin nghệ sĩTên khai sinh安室奈美恵 (Amuro Namie)Sinh20 tháng 9, 1977 (44 tuổi)Nguyên quán
Ca sĩ nam nhật bản nổi tiếng là ai?
Naha, Okinawa, Nhật BảnDòng nhạcPop, R&B, urban, dance, hip-pop, electronica, houseNghề nghiệpCa sĩ, Diễn viên, vũ công, người mẫuNhạc cụGiọng hátNăm hoạt động1992–2018Hãng đĩaToshiba-EMI (1992-1995)
Avex Trax (1995-nay)Hợp tác vớiSUPER MONKEY'S
SUITE CHIC
MAXWebsitehttp://namieamuro.jp/Tên tiếng NhậtKanji安室 奈美恵Hiraganaあむろ なみえKatakanaアムロ ナミエ

Sinh ra tại Naha, Okinawa, Amuro khởi nghiệp năm 14 tuổi, là một thành viên trong nhóm nhạc nữ Super Monkey's. Dù sự nghiệp của nhóm hầu như không thành công, nhưng đĩa đơn cuối cùng của họ "TRY ME ~私を信じて~" (1998) gây được nhiều chú ý.[4] Amuro rời khỏi Toshiba-EMI sau khi phát hành thêm 2 đĩa đơn solo và cô tiếp tục hoạt động như một ca sĩ độc lập với hãng đĩa Avex Trax. Dưới sự dẫn dắt của nhà sản xuất Tetsuya Komuro, Amuro nhanh chóng đạt được những thành công thương mại với hàng triệu bản thu âm được tiêu thụ và tạo ra những xu hướng thời trang cho giới trẻ lúc bấy giờ.[5][6] Đĩa đơn "CAN YOU CELEBRATE?" (1997) vẫn đang giữ kỷ lục đĩa đơn có lượng tiêu thụ cao nhất bởi một nữ nghệ sĩ tại Nhật.[7] Tuy nhiên cuối năm 1997, cô tạm ngưng hoạt động vì đám cưới và việc mang thai.[8]

Amuro trở lại với âm nhạc bằng đĩa đơn "I HAVE NEVER SEEN" (1998) và album GENIUS 2000 (2000) đều đứng đầu bảng xếp hạng nhưng số lượng bán ra giảm mạnh so với những sản phẩm trước của cô. Sau khi ngừng hợp tác với Tetsuya Komuro năm 2001, Amuro tham gia vào dự án SUITE CHIC - một nhóm nhạc R&B/hip-hop với mục đích hướng tới dòng nhạc này.[9] Nhờ việc đổi mới hình ảnh và thể loại âm nhạc hip-pop, cô một lần nữa lấy lại được thành công và danh tiếng. Album phòng thu thứ bảy PLAY (2007) đứng đầu bảng xếp hạng và có lượng tiệu thu cao nhất kể từ GENIUS 2000.[10] Những album sau đó của cô đều giữ được lượng tiêu thụ ổn định, khẳng định vị trí của cô trong thị trường âm nhạc.

Hơn 25 năm sự nghiệp, Amuro là một trong những nữ nghệ sĩ giữ được danh tiếng lâu nhất tại Nhật. Cô vẫn tiếp tục thành công cả khi đã li hôn, mất gia đình, đơn thân nuôi con.[11] Cô cũng 2 lần thắng giải Grand Prix Award cùng nhiều giải thưởng danh giá như MTV Video Music Awards Japan, World Music Awards, Japan Gold Disc Award.[12][13] Tính đến năm 2012, số lượng đĩa nhạc bán ra của Amuro là 31 triệu bản, xếp thứ 4 trong danh sách những nữ nghệ sĩ và thứ 12 trong danh sách chung của các nghệ sĩ bán đĩa nhiều nhất.[14]

# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[15]
1 Dance Tracks Vol.1 16/10/1995 1 1 865 000
2 Sweet 19 Blues 22/07/1996 1 3 700 000
3 Concentration 20 24/07/1997 1 1 930 000
4 Genius 2000 26/01/2000 1 803 000
5 Break the Rules 20/12/2000 2 335 000
6 Style 10/12/2003 4 222 000
7 Queen of Hip-Pop 13/07/2005 2 494 000
8 Play 27/06/2007 1 541 000
9 Past<Future 16/12/2009 1 600 000
10 Uncontrolled 27/06/2012 1 541 000
11 Feel 10/07/2013 1 393 000
12 Genic 10/06/2015 1 253 000
# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[15]
1 Original Tracks Vol.1 30/09/1996 3 419 000
2 181920 28/01/1998 1 2 000 000
3 Love Enhanced Single Collection 13/03/2002 3 305 000
4 Best Fiction 30/07/2008 1 1 553 000
5 Checkmate! 27/04/2011 1 500 000
6 Ballada 04/06/2014 1 500 000
7 Finally 08/11/2017 1 2 550 000
# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[15]
1 Taiyou no SEASON 26/04/1995 5 611 000
2 Stop the music 24/07/1995 4 528 000
3 Body Feels EXIT 25/10/1995 3 882 000
4 Chase the Chance 04/12/1995 1 1 362 000
5 Don't wanna cry 13/03/1996 1 1 390 000
6 You're my sunshine 05/06/1996 1 1 099 000
7 SWEET 19 BLUES 21/08/1996 2 453 000
8 a walk in the park 27/11/1996 1 1 067 000
9 CAN YOU CELEBRATE? 19/02/1997 1 2 750 000
10 How to be a Girl 21/05/1997 1 772 000
11 Dreaming I was dreaming 27/11/1997 1 559 000
12 I HAVE NEVER SEEN 23/12/1998 1 657 000
13 RESPECT the POWER OF LOVE 17/03/1999 2 492 000
14 toi et moi 07/07/1999 3 272 000
15 SOMETHING 'BOUT THE KISS 01/09/1999 3 369 000
16 LOVE 2000 01/01/2000 4 228 000
17 NEVER END 12/07/2000 2 640 000
18 PLEASE SMILE AGAIN 04/10/2000 2 217 000
19 think of me/no more tears 24/01/2001 7 113 000
20 Say the word 08/08/2001 3 184 000
21 I WILL 14/02/2002 7 95 000
22 Wishing On The Same Star 11/09/2002 2 97 000
23 shine more 05/03/2003 8 52 000
24 Put 'Em Up 16/07/2003 7 41 000
25 SO CRAZY/Come 16/10/2003 8 49 000
26 ALARM 17/03/2004 11 58 000
27 ALL FOR YOU 22/07/2004 6 113 000
28 GIRL TALK/the SPEED STAR 14/10/2004 2 107 000
29 WANT ME, WANT ME 06/04/2005 2 103 000
30 White Light/Violet Sauce 16/11/2005 7 73 000
31 CAN'T SLEEP, CAN'T EAT, I'M SICK/Ningyo 17/05/2006 2 80 000
32 Baby Don't Cry 24/01/2007 3 144 000
33 FUNKY TOWN 04/04/2007 3 54 000
34 60s 70s 80s 12/03/2008 1 293 000
35 WILD/Dr. 18/03/2009 1 119 000
36 Break It/Get Myself Back 28/07/2010 3 85 000
37 NAKED/Fight Together/Tempest 27/07/2011 2 101 000
38 Sit! Stay! Wait! Down!/Love Story 07/12/2011 3 162 000
39 Go Round/YEAH-OH 21/03/2012 4 65 000
40 Big Boys Cry/Beautiful 06/03/2013 4 32 000
41 TSUKI 29/01/2014 3 67 000
42 BRIGHTER DAY 12/11/2014 8 53 000
43 Red Carpet 02/12/2015 2 36 000
44 Mint 18/05/2016 4 46 000
45 Hero 27/07/2016 6 82 000
46 Dear Diary/Fighter 26/10/2016 3 64 000
47 Just You and I 31/05/2017 6 35 000
# Tên Năm phát hành
1 Mr USA 1992
2 Try Me ~Watashi o Shinjite~ 1995
3 Taiyō no Season
4 Stop the Music
5 Body Feels Exit
6 Chase the Chance
7 Don't Wanna Cry 1996
8 You're My Sunshine
9 Sweet 19 Blues
10 A Walk in the Park
11 Can You Celebrate? 1997
12 How to Be a Girl
13 Dreaming I Was Dreaming
14 I Have Never Seen 1998
15 Respect the Power of Love 1999
16 Something 'bout the Kiss
17 Love 2000 2000
18 Never End
19 Please Smile Again
20 Think of Me 2001
21 Say the Word
22 I Will 2002
23 Wishing on the Same Star
24 Did U
25 Shine More 2003
26 Put 'Em Up
27 So Crazy
28 Alarm 2004
29 All for You
30 Girl Talk
31 The Speed Star
32 Want Me, Want Me 2005
33 WoWa
34 White Light
35 Can't Sleep, Can't Eat, I'm Sick 2006
36 Ningyo
37 Baby Don't Cry 2007
38 Funky Town
39 Hide and Seek
40 Hello
41 New Look 2008
42 Rock Steady
43 What a Feeling
44 Do Me More
45 Sexy Girl
46 Wild 2009
47 Dr.
48 The Meaning of Us
49 Fast Car
50 Love Game
51 Defend Love
52 Break It 2010
53 Get Myself Back
54 Wonder Woman 2011
55 Make It Happen
56 Unusual
57 #1
58 Naked
59 Tempest
60 Love Story
61 Go Round 2012
62 Yeah-Oh!
63 Only You
64 Hot Girls
65 Let's Go
66 In the Spotlight (Tokyo)
67 Damage
68 Big Boys Cry 2013
69 Contrail
70 Hands on Me
71 Heaven
72 Let Me Let You Go
73 Alive
74 Ballerina
75 Neonlight Lipstick
76 Tsuki 2014
77 Four Seasons
78 Himawari
79 Can You Celebrate? (remake)
80 Sweet 19 Blues (remake)
81 Brighter Day
82 Sweet Kisses
83 Birthday 2015
84 Stranger
85 Anything
86 Fashionista
87 Golden Touch
88 B Who I Want 2 B
89 Red Carpet
90 Mint 2016
91 Hero
92 Hero (NHK version)
93 Show Me What You've Got
94 Dear Diary
95 Fighter
96 Just You and I 2017
97 Christmas Wish
98 In Two
99 How Do You Feel Now?
100 Showtime
101 Do It For Love
102 Finally
  • 16 tháng 7 - 27 tháng 8 năm 1995: Namie Amuro with Super Monkey's Concert 95
  • 27 tháng 12 năm 1995: Namie Amuro with Super Monkey's First Live in Okinawa 95
  • 20 tháng 3 - 19 tháng 5 năm 1996: Mistio presents Namie Amuro with Super Monkey's Tour 96
  • 27 tháng 8 - 1 tháng 9 năm 1996: Summer presents 96 Namie Amuro with Super Monkey's
  • 23 tháng 3 - 18 tháng 5 năm 1997: Namie Amuro Tour 1997 A Walk In The Park
  • 26 tháng 7 - 13 tháng 8 năm 1997: Mistio presents Namie Amuro Summer Stage 97 Concentration 20
  • 20 tháng 3 - 7 tháng 5 năm 2000: Namie Amuro Tour GENIUS 2000
  • 18 tháng 3 - 27 tháng 5 năm 2001: Namie Amuro Tour 2001 Break The Rules
  • 17 tháng 10 - 10 tháng 11 năm 2001: Namie Amuro Tour "AmR" 01
  • 29 tháng 11 năm 2003 - 11 tháng 4 năm 2004: Namie Amuro So Crazy Tour featuring Best Singles 2003–2004
  • 1–2 tháng 5 năm 2004: Namie Amuro So Crazy in Taipei
  • 13–15 tháng 5 năm 2004: Namie Amuro So Crazy Tour in Seoul 2004
  • 27 tháng 8 - 20 tháng 9 năm 2004: Namie Amuro Tour "Fan Space 04"
  • 1 tháng 9 - 24 tháng 12 năm 2005: Space of Hip-Pop: Namie Amuro Tour 2005
  • 13 tháng 8 - 23 tháng 11 năm 2006: Namie Amuro BEST Tour LIVE STYLE 2006
  • 18 tháng 8 - 25 tháng 12 năm 2007: Namie Amuro PLAY Tour 2007
  • 26 tháng 1 - 27 tháng 2 năm 2008: Namie Amuro PLAY MORE!!
  • 12–13 tháng 4 năm 2008: Namie Amuro PLAY MORE!! in Taipei
  • 25 tháng 10 năm 2008 - 12 tháng 7 năm 2009: Namie Amuro Best Fiction Tour 2008–2009
  • 3 tháng 4 - 15 tháng 12 năm 2010: Namie Amuro Past<Future Tour 2010
  • 30 tháng 7 - 27 tháng 12 năm 2011: Namie Amuro LIVE STYLE 2011
  • 24 tháng 11 - 21 tháng 12 năm 2012: Namie Amuro 5 Major Domes Tour 2012 ~20th Anniversary Best~
  • 23 tháng 2 - 16 tháng 3 năm 2013: Namie Amuro ASIA Tour 2013
  • 16 tháng 8 - 23 tháng 12 năm 2013: Namie Amuro FEEL Tour 2013
  • 22 tháng 8 - 23 tháng 12 năm 2014: Namie Amuro LIVE STYLE 2014
  • 5 tháng 9 năm 2015 - 26 tháng 3 năm 2016: Namie Amuro LIVEGENIC 2015–2016
  • 19 tháng 8 năm 2016 - 3 tháng 5 năm 2017: Namie Amuro LIVE STYLE 2016–2017
  • 16–17 tháng 9 năm 2017: Namie Amuro 25th Anniversary in Okinawa
  • 17 tháng 2 - 3 tháng 6 năm 2018: Namie Amuro FINAL Tour 2018 ~Finally~
  • 17 tháng 3 - 20 tháng 5 năm 2018: Namie Amuro FINAL Tour 2018 ~Finally~ in ASIA

  1. ^ Herskovitz, Jon (ngày 17 tháng 1 năm 1998). “Japan's Stardom School; Pop Phenoms Get Their Start in an Okinawa Mall”. The Washington Post: B.08. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008.
  2. ^ Tony Parsons 2004, tr. 328Lỗi harv: không có mục tiêu: CITEREFTony_Parsons2004 (trợ giúp)
  3. ^ Tim Ryan (ngày 11 tháng 5 năm 2000). “Shy Amuro turned into Japan's 'Madonna'”. Honolulu Star-Bulletin. Oahu Publications Inc. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. EVER hear of Namie Amuro? Most people outside Asia haven't, but she's been called Japan's Madonna (the singer, not the religious figure).
  4. ^ (tiếng Nhật) 第37回日本レコード大賞. Japan Record Awards. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2021.
  5. ^ “Baggy Socks (Schoolgirl Fashion)”. ngày 6 tháng 4 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006.
  6. ^ Jim Frederick (ngày 11 tháng 10 năm 2004). “Cracking the code of Tokyo's teens”. TIME. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006.
  7. ^ (tiếng Nhật) “大人が選ぶ女性バラードBEST30”. TV Asahi. ngày 8 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008.
  8. ^ "Can you celebrate? Not yet, Amuro-chan". The Japan Times Online. ngày 4 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011.
  9. ^ (tiếng Nhật) “SUITE CHIC”. bounce.com. ngày 20 tháng 2 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008.
  10. ^ (tiếng Nhật) “安室奈美恵、7年5ヵ月ぶりに首位返り咲き”. oricon. ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008.
  11. ^ Lewis, Leo (ngày 26 tháng 1 năm 2005). “Comeback queen of J-pop”. London: Times Online. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008.
  12. ^ “Singing sensation plans Hawaii concert”. Honolulu Star Bulletin. ngày 31 tháng 3 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006.
  13. ^ (tiếng Nhật) “第39回日本レコード大賞”. Japan Record Award. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  14. ^ “Oricon Thread 2012 (AKB48 #1 single, EXILE #1 album)”. JPOP Central. ngày 14 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013.
  15. ^ a b c (tiếng Nhật) “オリコンランキング情報サービス「you大樹」” [Oricon Ranking Information Service 'You Big Tree']. Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014.

  • Trang web chính thức Lưu trữ 2005-11-09 tại Wayback Machine
  • Kênh Namie Amuro trên YouTube
  • Amuro Namie trên Internet Movie Database
  • Amuro Namie trên Facebook

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Amuro_Namie&oldid=67518729”