Tiếng Malaysia tiếng Anh là gì

Dưới đây là giải thích ý nghĩa từ anh trai hoặc em trai trong tiếng Malaysia và cách phát âm anh trai hoặc em trai tiếng Malaysia. Sau khi đọc xong nội dung này chắc chắn bạn sẽ biết từ anh trai hoặc em trai tiếng Malaysia nghĩa là gì.

Tiếng Malaysia tiếng Anh là gì
Adik lelaki
(phát âm có thể chưa chuẩn)

anh trai hoặc em trai trong tiếng Malaysia có nghĩa là: Adik lelaki tong tiếng Việt.
Sử dụng từ này khi bạn muốn nói về chủ đề Thành viên gia đình

  • basikal tiếng Malaysia là gì?
  • dipanggang tiếng Malaysia là gì?
  • pasport tiếng Malaysia là gì?
  • farmasi tiếng Malaysia là gì?
  • adakah awak terima kad kredit tiếng Malaysia là gì?

Cách dùng từ anh trai hoặc em trai tiếng Malaysia

Đây là một thuật ngữ Tiếng Malaysia chuyên ngành được cập nhập mới nhất năm 2022.

Cùng học tiếng Malaysia

Hôm nay bạn đã học được thuật ngữ anh trai hoặc em trai tiếng Malaysia là gì? với Từ Điển Số rồi phải không? Hãy truy cập tudienso.com để tra cứu thông tin các thuật ngữ chuyên ngành tiếng Anh, Trung, Nhật, Hàn...liên tục được cập nhập. Từ Điển Số là một website giải thích ý nghĩa từ điển chuyên ngành thường dùng cho các ngôn ngữ chính trên thế giới.

Tiếng Mã Lai hay tiếng Malay ("Ma-lây"; chữ Latinh: Bahasa Melayu; chữ cái Jawi: بهاس ملايو) là một ngôn ngữ chính của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian). Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia của Indonesia (với tên tiếng Indonesia), Malaysia (với tên tiếng Malaysia), và Brunei, và là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore. Tiếng Mã Lai là tiếng mẹ đẻ của 40 triệu người hai bên eo biển Malacca, bao gồm các vùng ven biển của bán đảo Mã Lai của Malaysia và vùng ven biển phía đông đảo Sumatra của Indonesia, và cũng trở thành ngôn ngữ bản địa tại một phần vùng bờ biển phía tây của Sarawak và Tây Kalimantan trên đảo Borneo. Tổng số người nói tiếng Mã Lai là trên 215 triệu người.

Chúng ta có thể tra từ điển tiếng Malaysia miễn phí mà hiệu quả trên trang Từ Điển Số.Com

Malaysia nói tiếng gì?

chính phủ Malaysia đã quyết định chọn tiếng Anh là ngôn ngữ chính của mình. Điều đó đồng nghĩa là trong hệ thống giáo dục và các cơ quan hành chính hiện nay tại Malaysia, ngôn ngữ được sử dụng chính là tiếng Anh. Bất kì hoạt động lớn nhỏ, hành chính, quảng cáo, khắp các đường phố thì người dân ở Malaysia vẫn sử dụng tiếng Anh. Nhưng đối với những người Malaysia đi theo văn hóa Mã Lai vẫn luôn giữ quan điểm ngôn ngữ chính của họ là tiếng Mã Lai.

Do là ngôn ngữ quốc gia của một vài nước, tiếng Mã Lai tiêu chuẩn cũng có vài tên chính thức. Tại Singapore và Brunei, nó được gọi là Bahasa Melayu (tiếng Mã Lai); tại Malaysia, Bahasa Malaysia (tiếng Malaysia); và tại Indonesia, Bahasa Indonesia (tiếng Indonesia). Tuy nhiên, ở các khu vực trung bộ và nam bộ của đảo Sumatra, tức những nơi mà tiếng Mã Lai là ngôn ngữ bản địa, người dân Indonesia tại đó gọi ngôn ngữ của họ là Bahasa Melayu và xem nó là một ngôn ngữ khu vực.

Tiếng Mã Lai hay tiếng Malay ("Ma-lây"; chữ Latinh: Bahasa Melayu; chữ cái Jawi: بهاس ملايو) là một ngôn ngữ chính của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian). Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia của Indonesia (với tên tiếng Indonesia), Malaysia (với tên tiếng Malaysia), và Brunei, và là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore. Tiếng Mã Lai là tiếng mẹ đẻ của 40 triệu người hai bên eo biển Malacca, bao gồm các vùng ven biển của bán đảo Mã Lai của Malaysia và vùng ven biển phía đông đảo Sumatra của Indonesia, và cũng trở thành ngôn ngữ bản địa tại một phần vùng bờ biển phía tây của Sarawak và Tây Kalimantan trên đảo Borneo. Tổng số người nói tiếng Mã Lai là trên 215 triệu người.[3]

Tiếng Malaysia tiếng Anh là gì
Tiếng Mã LaiBahasa Melayu
بهاس ملايو‎Sử dụng tạiIndonesia (với tên tiếng Indonesia)

Malaysia (với tên tiếng tiếng Malaysia)
Brunei
Singapore
Thái Lan (với tên tiếng Yawi) ภาษายาวี
Đông Timor (với tên tiếng Indonesian)
Đảo Christmas[1]

Quần đảo Cocos (Keeling) (trên pháp lý)Tổng số người nóiBản địa: 77 triệu (2007)[2]
Tổng số: trên 215 triệu[3]Phân loạiNam Đảo
  • Malay-Polynesia
    • M-P hạt nhân
      • Malay-Sumbawa
        • Malayic
          • Malayan
            • Tiếng Mã Lai
Dạng chuẩn

tiếng Malaysia

tiếng Indonesia

Hệ chữ viếtBảng chữ cái tiếng Mã Lai (chữ La tinh; chính thức tại Malaysia, Singapore và Indonesia; đồng chính thức tại Brunei)

chữ cái Jawi (chữ cái Ả Rập; đồng chính thức tại Brunei và Malaysia[4])
chữ cái Thái (sử dụng tại Thái Lan)

Trong lịch sử từng viết bằng chữ cái Pallava, chữ cái Kawi và chữ cái Rencong.Địa vị chính thức

Ngôn ngữ chính thức tại

Indonesia
Malaysia
Brunei
Singapore
Quần đảo Cocos (Keeling) (trên pháp lý)

Ngôn ngữ thiểu số được công nhận tại

Indonesia (Tiếng Mã Lai bản địa được hưởng vị thế ngôn ngữ khu vực bên cạnh tiêu chuẩn quốc gia của tiếng Indonesian)

Quy định bởiDewan Bahasa dan Pustaka (Viện ngôn ngữ và Văn chương);
Majlis Bahasa Brunei–Indonesia–Malaysia (Hội đồng Ngôn ngữ Brunei–Indonesia–Malaysia – MABBIM)Mã ngôn ngữISO 639-1msmay (B)
msa (T)ISO 639-3tùy trường hợp:
zsm – tiếng Malaysia
ind – tiếng Indonesia
lrt – tiếng Mã Lai Larantuka ?
kxd – tiếng Mã Lai Brunei ?
meo – tiếng Mã Lai Kedah ?
zmi – tiếng Mã Lai Negeri Sembilan ?
dup – tiếng Duano ?
jak – tiếng Jakun ?
orn – tiếng Orang Kanaq ?
ors – tiếng Orang Seletar ?
tmw – tiếng Temuan ?Bài viết này có chứa ký tự ngữ âm IPA. Nếu không thích hợp hỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tự Unicode. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xem Trợ giúp:IPA.

Do là ngôn ngữ quốc gia của một vài nước, tiếng Mã Lai tiêu chuẩn cũng có vài tên chính thức. Tại Singapore và Brunei, nó được gọi là Bahasa Melayu (tiếng Mã Lai); tại Malaysia là Bahasa Malaysia (tiếng Malaysia); và tại Indonesia là Bahasa Indonesia (tiếng Indonesia). Tuy nhiên, ở các khu vực trung bộ và nam bộ của đảo Sumatra, tức những nơi mà tiếng Mã Lai là ngôn ngữ bản địa, người dân Indonesia tại đó gọi ngôn ngữ của họ là Bahasa Melayu và xem nó là một ngôn ngữ khu vực.

Tiếng Mã Lai tiêu chuẩn dựa theo tiêu chuẩn văn chương của các vương quốc Hồi giáo Malacca và Johor và thời kỳ tiền thuộc địa, và ngôn ngữ này đôi khi cũng được gọi là tiếng Mã Lai Malacca, Johor, hay Riau (hay kết hợp các tên này) để phân biệt với các biến thể khác của nhóm ngôn ngữ Mã Lai. Theo Ethnologue 16, một vài biến thể của tiếng Mã Lai nay được liệt vào danh sách các ngôn ngữ riêng biệt, bao gồm các biến thể Orang Asli của tiếng Mã Lai Bán đảo. Cũng có một vài ngôn ngữ bồi hay ngôn ngữ pha trộn dựa trên cơ sở tiếng Mã Lai.

Các nhà ngôn ngữ học lịch sử Mã Lai cho rằng khả năng quê hương tiếng Mã Lai nằm ở phía tây Borneo kéo dài đến bờ biển Brunei.[5] Một dạng được gọi là ngôn ngữ Mã Lai nguyên thuỷ đã được nói ở Borneo ít nhất năm 1.000 TCN và nó được cho là ngôn ngữ tổ tiên của tất cả các ngôn ngữ Mã Lai tiếp theo. Tổ tiên của nó, ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo nguyên thuỷ, hậu duệ của ngôn ngữ Nam Đảo nguyên thuỷ, bắt đầu phân tách ít nhất năm 2.000 TCN, có thể là kết quả của sự mở rộng về phía nam của các dân tộc Nam Đảo vào Đông Nam Á hải đảo từ đảo Đài Loan.[6]

 

Lawah-Lawah Merah (1875), bản dịch tiếng Mã Lai của L'araignée rouge của René de Pont-Jest (fr) đã được xác định là tiểu thuyết tiếng Mã Lai đầu tiên. Trước thời đại, văn học & kể chuyện của Mã Lai chủ yếu được viết dưới dạng Hikayat .

Lịch sử của ngôn ngữ Mã Lai có thể được chia thành năm thời kỳ: Mã Lai cổ, thời kỳ chuyển tiếp, thời kỳ Malacca (Mã Lai cổ điển), Mã Lai cận hiện đại và Mã Lai hiện đại. Không rõ rằng tiếng Mã Lai cổ có thực sự là tiền thân của tiếng Mã Lai cổ điển hay không, nhưng điều này được cho là hoàn toàn có thể.[7]

Tiếng Mã Lai cổ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ văn học tiếng Phạn của Ấn Độ cổ điển và ngôn ngữ kinh sách của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Từ mượn tiếng Phạn có thể được tìm thấy trong từ vựng tiếng Mã Lai cổ. Bản khắc có niên đại cổ nhất của tiếng Mã Lai cổ được tìm thấy ở Sumatra, được viết bằng biến thể Pallava của chữ Grantha[8] và có từ thế kỷ thứ 7. Được biết đến với tên là bản khắc Kedukan Bukit, nó được M. Batenburg, một người Hà Lan, phát hiện vào ngày 29 tháng 11 năm 1920 tại Kedukan Bukit, Nam Sumatra, trên bờ sông Tatang, một nhánh của sông Musi. Bản khắc nằm trên một hòn đá nhỏ cỡ 45 nhân 80 xentimét (18 in × 31 in) .

Bản thảo sớm nhất còn tồn tại bằng tiếng Mã Lai là Luật Tanjung Tanah viết bằng chữ hậu Pallava.[9] Văn bản giáo lý tiền Hồi giáo thế kỷ 14 này được tạo ra trong thời kỳ Adityawarman (1345-1377) của Dharmasraya, một vương quốc Phật giáo-Ấn Độ giáo hình thành sau khi sự thống trị của Srivijaya ở Sumatra kết thúc. Luật pháp dành cho người Minangkabau, ngày nay vẫn sống ở vùng cao Sumatra.

Tiếng Mã Lai được sử dụng rộng rãi như ngôn ngữ chung của Vương quốc Malacca (1402-1511). Trong thời kỳ này, tiếng Mã Lai phát triển nhanh chóng dưới ảnh hưởng của văn học Hồi giáo. Sự phát triển đã thay đổi bản chất của ngôn ngữ với sự thu nhận từ vựng tiếng Ả Rập, tiếng Tamil và tiếng Phạn, biến nó thành tiếng Mã Lai cổ điển. Dưới thời Vương quốc Malacca, ngôn ngữ phát triển thành một dạng mà người nói tiếng Mã Lai hiện đại có thể phần nào hiểu được. Khi triều đình chuyển sang thành lập Vương quốc Johor, tiếng Mã Lai cổ điển vẫn tiếp tục được sử dụng.

Một trong những lá thư cổ nhất còn sót lại được viết bằng tiếng Mã Lai là một lá thư của Quốc vương Abu Hayat của Ternate, quần đảo Maluku ở Indonesia ngày nay, vào khoảng năm 1521-1522. Bức thư được gửi đến nhà vua Bồ Đào Nha, sau cuộc tiếp xúc với nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Francisco Serrão. Lá thư này cho thấy dấu hiệu rằng người viết không phải người bản ngữ tiếng Mã Lai; người Ternate đã (và vẫn sử dụng) tiếng Ternate, một ngôn ngữ Tây Papua không liên quan, làm tiếng mẹ đẻ. Tiếng Mã Lai chỉ được sử dụng như một ngôn ngữ chung khi giao tiếp liên sắc tộc.[10]

Tiếng Mã Lai là thành viên của ngữ hệ Nam Đảo, bao gồm các ngôn ngữ từ Đông Nam Á và Thái Bình Dương, với số lượng nhỏ hơn ở lục địa châu Á. Tiếng Malagasy, nằm cách biệt về mặt địa lý được nói ở Madagascar ở Ấn Độ Dương, cũng là một thành viên của hệ ngôn ngữ này. Mặc dù các ngôn ngữ này không nhất thiết thông hiểu lẫn nhau ở bất kỳ mức độ nào, điểm tương đồng giữa chúng khá nổi bật. Nhiều gốc từ hầu như không thay đổi so với tổ tiên chung của chúng, ngôn ngữ Nam Đảo nguyên thuỷ. Có rất nhiều từ cùng gốc trong những từ quan hệ họ hàng, sức khoẻ, bộ phận cơ thể và động vật thông thường. Đặc biệt, số đếm cho thấy sự tương đồng đáng chú ý.

Trong ngữ hệ Nam Đảo, tiếng Mã Lai là một phần của một nhóm các ngôn ngữ/phương ngữ/tiếng nói có liên quan chặt chẽ được gọi là nhóm ngôn ngữ Malay, được thương nhân Mã Lai từ Sumatra mang đi khắp Malaya và quần đảo Indonesia. Có sự bất đồng về việc trong các thổ ngữ hay gọi là "Mã Lai" này, tiếng nào nên được coi là phương ngữ tiếng Mã Lai, tiếng nào nên được coi là một ngôn ngữ riêng biệt. Ví dụ, tiếng địa phương của Brunei—tiếng Mã Lai Brunei, không thông hiểu hoàn toàn với tiếng Mã Lai chuẩn, và điều tương tự cũng xảy ra với một số khẩu ngữ trên bán đảo Mã Lai, chẳng hạn tiếng Mã Lai Kedah. Tuy nhiên, cả tiếng Mã Lai Brunei và tiếng Mã Lai Kedah đều khá gần nhau.[11]

Họ hàng gần nhất của tiếng Mã Lai là những ngôn ngữ còn lại trên Sumatra, như tiếng Minangkabau, với 5,5 triệu người nói ở miền duyên hải phía tây.

 

Bảng chữ cái Rencong, một hệ thống chữ viết bản địa được tìm thấy ở bán đảo Malay, trung tâm và Nam Sumatra. Văn bản đọc (chính tả của Voorhoeve): "haku manangis ma / njaru ka'u ka'u di / saru tijada da / tang [hitu hadik sa]", được dịch bởi Voorhoeve là: "Tôi đang khóc, gọi bạn, mặc dù đã gọi, bạn không đến" (hitu adik sa- là phần còn lại của dòng thứ 4.

 

Chữ khắc Kedukan Bukit, sử dụng Bảng chữ cái Pallava, là mẫu vật tồn tại lâu đời nhất của ngôn ngữ tiếng Mã Lai cổ trong Nam Sumatra, Indonesia.

Tiếng Mã Lai hiện tại được viết chủ yếu bằng chữ Latinh, hay gọi là Tulisan Rumi ("chữ Rumi", có nghĩa là "chữ Roma") trong tiếng Mã Lai, sau sự đô hộ của Đế quốc Anh giúp cho bảng chữ cái Latinh từ tiếng Anh trở nên phổ biến. Trước đây Tiếng Mã Lai được viết phổ biến bằng một phiên bản chữ Ả Rập có tên Arab Melayu hoặc Jawi, nhờ sự lan tỏa của Hồi giáo. Rumi là chính thức tại Malaysia, Singapore và Indonesia. Tiếng Mã Lai sử dụng chữ số Hindu-Ả Rập.

Rumi và Jawi chỉ cùng chính thức ở Brunei. Tên của các tổ chức và tổ chức phải sử dụng các tập lệnh Jawi và Rumi (Latin). Jawi được sử dụng đầy đủ trong các trường học, đặc biệt là Trường tôn giáo, Sekolah Agama, đây là điều bắt buộc trong buổi chiều đối với học sinh Hồi giáo từ khoảng 6-7 đến 12-14.

Những nỗ lực hiện đang được thực hiện để bảo tồn Jawi ở các vùng nông thôn của Malaysia và học sinh tham gia kỳ thi tiếng Mã Lai ở Malaysia có tùy chọn trả lời các câu hỏi bằng cách sử dụng Jawi.

Chữ viết Latinh, tuy nhiên, được sử dụng phổ biến nhất ở Brunei và Malaysia, cho cả mục đích chính thức và không chính thức.

Trong lịch sử, tiếng Mã Lai đã được viết bằng nhiều kịch bản khác nhau. Trước khi giới thiệu tập lệnh tiếng Ả Rập ở khu vực Malay, tiếng Mã Lai đã được viết bằng cách sử dụng các tập lệnh Pallava, Kawi và chữ cái Rencong; những thứ này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, chẳng hạn như Bảng chữ cái tiếng Chăm được sử dụng bởi người Chăm ở Việt Nam và Campuchia. Tiếng Mã Lai cổ được viết bằng kịch bản Pallava và Kawi, hiển nhiên từ một số viên đá khắc ở vùng Malay. Bắt đầu từ kỷ nguyên của vương quốc Pasai và trong suốt thời kỳ hoàng kim của Vương quốc Malacca, Jawi dần thay thế các kịch bản này như là kịch bản được sử dụng phổ biến nhất ở khu vực Malay. Bắt đầu từ thế kỷ 17, dưới tiếng Hà Lan và ảnh hưởng của Anh, Jawi dần được thay thế bằng chữ viết Rumi.[12]

  1. ^ Chịu ảnh hưởng phần lớn từ tiếng Indonesia
  2. ^ Nationalencyklopedin "Världens 100 största språk 2007" The World's 100 Largest Languages in 2007
  3. ^ a b Uli, Kozok (ngày 10 tháng 3 năm 2012). “How many people speak Indonesian”. University of Hawaii at Manoa. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012. Even if we are very conservative and consider only two third of Malaysians and 85% of Indonesians as fluent speakers (either native, or near-native), there are still more than 215 million speakers of Malay-Indonesian.
  4. ^ “Kedah MB defends use of Jawi on signboards”. The Star. ngày 26 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2021.
  5. ^ Adelaar, K. Alexander (2004). “Where does Malay come from? Twenty years of discussions about homeland, migrations and classifications” (PDF). Bijdragen tot de Taal-, Land- en Volkenkunde (bằng tiếng Anh). 160 (1): 1–30. doi:10.1163/22134379-90003733.
  6. ^ Andaya, Leonard Y. (2001). “The Search for the 'Origins' of Melayu” (PDF). Journal of Southeast Asian Studies (bằng tiếng Anh). 32 (3): 315–330. doi:10.1017/S0022463401000169.
  7. ^ Wurm, Stephen; Mühlhäusler, Peter; Tryon, Darrell T. (1996). Atlas of Languages of Intercultural Communication in the Pacific, Asia, and the Americas: Vol I: Maps. Vol II: Texts. Walter de Gruyter. tr. 677. ISBN 978-3-11-081972-4.
  8. ^ “Bahasa Melayu Kuno”. Bahasa-malaysia-simple-fun.com. ngày 15 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010.
  9. ^ Surakhman, M. Ali (ngày 23 tháng 10 năm 2017). “Undang-Undang Tanjung Tanah: Naskah Melayu Tertua di Dunia”. kemdikbud.go.id (bằng tiếng Indonesia).
  10. ^ Sneddon, James N. (2003). The Indonesian Language: Its History and Role in Modern Society. UNSW Press. tr. 62. ISBN 978-0-86840-598-8.
  11. ^ Ethnologue 16 classifies them as distinct languages, ISO3 kxd and meo, but states that they "are so closely related that they may one day be included as dialects of Malay".
  12. ^ “Malay (Bahasa Melayu)”. Omniglot. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2008.

  Phương tiện liên quan tới Malay language tại Wikimedia Commons

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tiếng_Mã_Lai&oldid=68223385”